Trang Thơ Thứ Bẩy

13/01/202407:19:00(Xem: 2741)
nghieu-de
Tranh Nghiêu Đề.



LÊ CHIỀU GIANG

 

Khói của nhang tàn

 

Gió Sài Gòn làm chết tươi

đất Bắc

Ta đứng giữa lòng Hà Nội phấn son

Ánh đèn đêm và                   

Phố sá chao nghiêng

Lòng thoi thóp. Nhớ

trăm bài thơ cũ.

Đôi mắt Sơn Tây cứ nằm trong sách vở

Và phố xưa ghi dấu dáng kiều thơm…

 

Nắng gió không phai

Chữ, nghĩa…nằm im

Phùng Quán xanh xao

Những yêu cùng ghét

Nhọc nhằn quanh đây. Mưa, phố

Trần Dần.

Hoàng Cầm đảo điên viết

Về Kinh Bắc

Ơi những oán hờn

 Đã của trăm năm

 

Ta đốt thơ. Gọi:

Oan hồn tù ngục

Chút khói nhang. Bay

tới cõi

Muôn trùng…

 

*

 

TRẦN HOÀNG VY

 

Lại tuyết

 

Chân như cội gốc sa mù

Đời hơi nước tận căn tu hải hà

Trắng rờn rợn trắng màu da

Phả trong đêm tịch mịch là phù hư?

 

Trời vừa băng giá thiên như

Long lanh lạnh cõi cầm thư giọt huyền

Em từ ảo ảnh uyên nguyên

Trắng da, dài tóc mộng thuyền quyên hoa

 

Tuyết bay phủ chốn sa hà

Ủ trong tám cõi mầm là sinh sôi

Ước xưa nắng rụng mồ hôi

Ngày nghe tuyết chảy đơn côi về chiều!

 

Bốn bề rợn trắng chân chiêu

Ta đi vấp cái mỹ miều lạnh băng...

 

 

Một hôm lòng có sóng

 

Ấy là lúc mắt chạm hoa

Say hương bảng lãng vỡ òa sóng dâng

 

Là khi ta áp… thật gần

Môi thơm run rẩy một lần chạm môi!

 

Là khi hai đứa bên đồi

Nghe tim rạo rực chợt hồi hộp…run…

 

Ngày xa, sóng nhớ …điệp trùng

Cứ thao thiết vỗ vô cùng dư âm…

 

*

 

HOÀNG XUÂN SƠN

 

Hay [là] hoặc[là]

 

Thơ hay

sao lại chết người

       Người hay

       sao lại chết tôi

       bụi bờ

Tôi.  hay cá mú phạc phờ

Sông cạn queo nước bãì bờ khô lâu

       Đời hay

       gió máy lào xào

       Cây tre buồn ngủ

       ngọn sào đi riêng

Tình hay

ở tư thế ghiền

       Người người xúm lại

       cùng khiêng nhau về

 

 

Nhìn anh về

 

(Hậu cảnh trắng toát. Tiếng nằn nì vọng dội đều đều).

 

Thì cứ cầm hộ cho một chốc

không có tính toán không có công

phu hàm dưỡng chi hết cả chỉ

là lật qua lật lại mặt trái mặt

phải những quân bài bày bố sẵn

 

Những đụn rơm làng đùn lên mũ mãng

lóc cóc nhìn anh về thổ mộ xưa

hạ mã quỳ pháo

mùa gặt kín đáo giữa khung trời

lúa vàng tươm mồ hôi bắp vế non

lưng thắt ba đồng ruột tượng

xướng danh đồng đất nẻ phì nhiêu

mẹ phì nhiêu đẻ bầy con cáo

cầy phì lũ

bệnh trời nhiệt thán ngồi chơi lâu

mấy tay anh chị âm mưu quần thảo

anh phẳng phiu y quỡn bề bề

cà-la-goách nắm đầu lôi đi

thì về ngồi chiếu xanh

chiếu bí. tướng

 

(Tiếng nằn nì vọng dội hồi hai).

 

Mở ra đi em

sấp ngửa này có mình mình biết

con trốt hốt đi kho tàng

mà thế gian ì xèo vẫn sống

mở ra đi

mở hi hí mi rèm e lệ

mở he hé răng khểnh cười duyên

mở chói chan hạnh phúc ngùi ngùi

mở toang hoác

thân nhà

bụng biển

sấp ngửa này

phên trào

dậu hứng

 

Ôm lâu.  bia.  cuồng nộ

tệ hại bùng nhùng cái giải

rút

bao bì láng trơn

ồ gái đi đàng nào

nhìn anh về tháng năm bụi phỉ

(bụi ngoài đời bám riết hồn du)

chống chõi cuồng lưu đất cồn

đẩy đưa nhằm cơn bão

bữa không thức gì đá mạnh văng vào nông sâu

những chiếc lon thời thượng

 

Núm hồng bật đèn

xanh

thâm chốn mẹ

 

*

 

LÊ HƯNG TIẾN

 

Cô bé và những người lạ

Quả tim được lôi ra từ trong túi thời gian
Mỗi tên mỗi tuổi thức miệt vườn xưa sau muộn
Cô bé vẫn hao gầy vầng trăng khuyết
Và thới từng thớ thịt lên miệng đất thờn bơn
Khoả nước trung trinh.

Cô bé đẹp khi mùa về rầu lá
Có anh nào lạ dẫm ướt vạt sương

Cô bé buồn khi chiều nghiêng đổ
Có anh nào lạ vỗ mành tiếng chuông

Cô bé giận khi bắt đầu đến
Có anh nào lạ nhớ quên mùa sau

Cô bé khóc khi lòng phố vắng
Có anh nào lạ giăng sợi hồng ngang vai

Cô bé nhớ khi đêm nao đồng bóng
Có anh nào lạ lóng ngóng phía hồn hoang

Quả tim được lôi ra từ trong túi thời gian
Mỗi tên mỗi tuổi chòng vòng nhơ nhớ
Hạnh phúc vẽ bằng máu và vầng trăng khuyết
Cô bé ướt sũng miền con gái
Có anh nào lạ lấy nước mắt đổ vào túi thời gian.


Thiền

Thiền trong sâu mắt
Cái phận người dìm dẫm đong đo
Chia ai chạng vạng rẻo vui buồn
Hoàng hôn có khói

Thiền trong cánh gió
Đôi tay chạm hờ suy tưởng
Niềm hân hoan lạc lõng đôi bờ
Lối vào mù khơi

Thiền trong chân phố
Nỗi nhớ lan can từng ngõ cụt
Ai ngồi tâm tưởng vắt màu thời gian
Bàng bạc rỗng

Thiền trong ngôn ngữ
Trái tim ai giấu chiếc môi ngoan hạt ngọc
Cánh sen hồng ngậm chuỗi chuỗi sát-na từ sâu mắt
Cái phận người phả vào không khí

Thiền trong cội thức
Đêm đem cơ trần cởi sạch mùa riêng cũ
Con đom đóm tạc vào thảm cỏ phù hư
Ban mai lại độc hành


Thời vụ

Bỏ vào khoảng trống
Mấy vụ mùa thơ mảy may hạt
Ít ỏi phù sa

Trên cánh đồng triển hạn
Ai đó cầy xới lên sâu thẳm
Làm con chuồn chuồn đói những vầng thơ.

Khi đường bay lấm tấm vào sợi mưa
Ký ức bốc hơi về đỉnh núi
Ai đó cũ cái hồn nhiên và cái riêng tư

Những cái gọi trong thao thác
Làm hư hao từng mớ cơ thể
Trái tim dong ruổi làm đủ ưu phiền.

Bỏ vào khoảng trống
Tháng ngày qua lỏng chỏng đôi vai cày
Vụ mùa thơ gầy guộc giống

Ném mồ hôi từ sóng mắt
Chiều vật vã cho hồn chữ cày cáy
Vụ mùa thơ chồi lên tư lự

Bỏ vào khoảng trống
Bỏ vào khoảng không.

Ta loài cỏ chưa một lần bén rễ / Trên đất này ta là khói bơ vơ / Phải đêm xưống hay bình minh ló dạng / Mặt trời hồng chưa một bước đi xa...
Có ai thật sự thấy thi sĩ? | Có ai thật sự hiểu thơ? | Thơ vẽ hoa Hướng Nguyệt | tròn như trăng | cánh trong như gương | nhìn thấu thế giới nhụy như viễn vọng kính nhìn vào không gian.
Những khúc thơ ngắn của nhà văn Trần Hoàng Vy. Cảm xúc cô đọng, bất ngờ...
phân thân ̶ ̶ ̶ bạn nói phân thân / nhẹ nhàng tách rời khỏi xác / lênh đênh trên dòng chảy vô hạn / bềnh bồng trong bầu sinh quyển phi trọng lượng / như lạc vào một bức tranh chagall...
Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...