Thơ Lê Hưng Tiến

14/03/202412:50:00(Xem: 2104)

Bram van Velde - Sans titre, 1947

 


Huế khôi nguyên

 

Mới hôm tê chiếc lá chiều chơi vơi

Bóng thiên di chết một cành tím Huế

Tôi tìm được nửa bên nớ

Đồi Thiên An...

 

Mới hôm tê ngọn đuốc thắp suốt cung đàn

Tiếng mõ Nam ai cám cảnh phù du

Kinh thiêng niệm réo rắt tầng xa thẳm

Bên chùa Thiên Mụ...

 

Mới hôm tê thềm trăng rụng đầy lá thu

Đêm Vỹ Dạ dập dìu bến tự tình

Mấy dã khách ri đắm mình tun hút

Đập Đá cũng rứa...

 

Nếu nước mắt là hạnh phúc tràn qua khe cửa

Phu Văn Lâu hãy rũ màu sông Hương huyền diệu

Ngóng Thành cổ trầm mặc giữa mùa hoa đăng

Chân dung em hôm chừ cũng rứa...

 

Có lần cơn mưa tình đổ xuống thật bưa

Anh sinh viên ni kể chi mô những dòng sông bất hạnh

Cô tê nghe răng mà rót cả vào sâu thẳm

Mặc cho Tịnh Tâm rũ sạch bóng hồ sen tề!

 

Ôi! Còn những con phố quen mùi chân đất

Ta bỏ cuộc đời men theo đường cỏ

Để tháng năm ghi dấu một kẻ đi rong

Như Thành Huế vẫn nét khôi nguyên chào mỗi thần hôn.

 

*
 

Cái tôi có thể

 

Mở những khát vọng ra

Cánh cửa đập tan bờ sóng

Trái tim không thể hú hớ nổi ngọn gió thơ

                                                            trên đồi hoang vu

Mênh mông vỡ vụn và tự mất dần bóng tối lung linh.

 

Đến lúc khác giấc khuya vụt dậy

Tung hứng hàng hàng câu trả lời vì sao và vì sao

Trái tim không thể hú hớ nổi ngọn gió thơ

trên đồi hoang vu

Khát vọng vẫn cô độc bởi dấu chấm hỏi còn kìm kẹp

phía sau mặt trời đỏ lệ.

 

Rồi thời gian ẩn ngữ những hoài niệm thông hành

Thế giới thì luôn thức nhận trong con người chuỗi chuỗi linh động

Có thể cái tôi cao trào. Nhưng bật khát vọng ra

Có thể cái tôi quá vãng

Có thể cái tôi chưa đủ là cái tôi khát vọng

Và có thể cái tôi không thể hú hớ nổi ngọn gió thơ

trên đồi hoang vu

cái tôi có thể.


-- Lê Hưng Tiến

Nắng cất chứa trong lòng gỗ thơm / Khói ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử / Nắng vắng trong hư không, nhưng nắng chất đầy một lò sưởi đỏ / Nắng lên thành mầu Khói, thơ đọng thành mầu Sương / Nắng cất giữ trong từng hạt mưa Xuân / Giọt nước cúi xuống hôn Đất, cho hạt cây nẩy Mầm / Thơ đi theo mưa về trên đọt Lá / Nắng thành màu Xanh, thơ thành mầu Hồng
tìm mãi không ra con đường bất tận / chở thương yêu về ruộng đồng / nơi có những chôn giấu thầm lặng / phôi pha theo đất đỏ phù sa / bao nhiêu lần dang tay réo gọi / níu về phía mặt trời
Tôi khuyên ông tạm dừng ra quán uống rượu uống cà phê / bạn ta theo đảng Dân Chủ cũng nhiều mà Cộng Hòa cũng lắm / động tới chuyện bầu cử, vaccine, covid, khẩu trang / thế nào cũng có khả năng choảng nhau văng nước miếng / lúc say máu ngà có tránh trớ virus gì đâu?
“Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa / Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua / Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa / Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”
Cả Trung Quốc, một cõi người đông như cỏ, mới có một tài năng thần kỳ như Bào Đinh, cắt thịt như gió xuyên qua lá, tưởng chừng là loạn đao, mà lại thứ tự lành nghề, đạt đến kỹ thuật cao, và nghệ thuật độc nhất vô nhị. Nhưng vài mươi năm sau, ông ta qua đời. Từ đó, không còn ai thừa kế. Tài năng vượt thời gian trở thành truyền thuyết. Về sau, biết bao nhiêu người vì truyền thuyết đã mơ tưởng tu luyện để tiến đến nghệ thuật kỳ tài. Vì không thể nào lưu truyền, tài năng cắt thịt không mang lại ích lợi chung là bao nhiêu.
khi tôi ngước mặt trả lời / bà đã quay lưng / nắng sớm vươn theo lấp lánh / trên tóc trên vai / áo phất phơ bay trong gió
chút ánh sáng của núi rạng đông / phương đó quê hương là mặt trời / rót chén rượu ân tình nắng ấm / lòng xao xuyến như lần đầu tìm nhau / tấm lòng như con nước dâng cao / hạnh phúc như đến từ vũ trụ / giấc mơ vẽ lên bức tranh trăm nỗi / cuộc tương phùng cuối đời
Thơ ông có bí mật ma thuật ra sao? Xin đọc Howl (Hú), bạn đọc sẽ thấy chữ nghĩa biến hóa, phẩm chất văn chương văn học, cách mạng văn học, hòa tan vào nhau, cuồn cuộn bất ngờ, như múa lân, không biết lúc nào nó ngóc đầu, đập đuôi, xàng xê, nhảy cao, trồn đồn, lăn chiên. Đám muá lân đó, có Bùi Giáng đóng vai tề thiên đầy phép tắc và huyền thoại.
Saigon mẹ tôi không miếng trầu tươi / Không miếng vôi nồng, môi miệng biếng cười / Mẹ ngồi lặng nghe từng con số tới / Số cứ tăng dần, mắt Mẹ lệ rơi
bất kể dự báo thời tiết hôm nay & mười ngày tới / ở một nơi rất riêng tư ̶ ̶ ̶ trước không hề có tên / nay gọi vùng vịnh bóng đè / đối mặt một đại dương chưa bao giờ phẳng lặng
Ba bài thơ trên được trích từ tập sách "Không Đứng Mãi Trong Tranh" của Lê Chiều Giang, sách gồm những bài tùy bút ngắn tác giả viết "Mà như vẽ lại... không hề tẩy xóa, chẳng tô vẽ thêm..." và những bài thơ "hiện thực đầy ẩn dụ". "Không Đứng Mãi Trong Tranh" của Lê Chiều Giang là cuốn sách đầu tay và duy nhất được tác giả gởi tặng đến những người bạn của Nghiêu Đề và bạn Cô, với lời Nguyễn Thị Thụy Vũ viết thay đề tựa: "Chúng tôi sẽ đọc Lê Chiều Giang, những giòng chữ chảy lui về quá khứ. Một quá khứ không thể nào không nhắc tới, nhớ tới... Những quá khứ của thời đã "Chết đi, sống lại." Đọc Lê Chiều Giang là đứng lùi lại, ngắm nhìn những bức tranh vẽ lại kỷ niệm, bạn bè, tình yêu, những điều rất xa xưa, bằng cặp mắt của hiện tại, bức tranh của những tháng ngày cũ ẩn hiện bằng cảm xúc riêng của tác giả, nhưng rất chung như chính trăn trở của bạn bè, thế giới, thời đại của Cô. Đọc thơ Lê Chiều Giang, là để ngọn khói trong lòng mình bay lên, là "Mổ trái tim.
Thơ ba dòng là một thứ “hố đen” trong vũ trụ thơ. Đó là thứ “thơ còn lại” sau khi thiêu rụi những rườm rà, những quy cách, những lối mòn của những đường lối thơ đã trở nên chán ngắt mà, trong đó, nổi bật nhất, là sự mượt mà du dương của chủ nghĩa lãng mạn. Thơ ba dòng, do đó, là thơ để nghĩ hơn là để ngân nga như những nhạc điệu êm tai và, trong tương tác với người đọc, như là một thứ thơ đã nén chặt, nó sẽ bùng nổ theo những liên tưởng và suy tưởng không ngờ.
Thanh âm một cõi Sa Bà / Ba ngàn thế giới cũng là tại tâm / Nước non chung một cung trầm / Máu sa lệ sót những lầm than đau