Thơ Lê Hưng Tiến

14/03/202412:50:00(Xem: 2013)

Bram van Velde - Sans titre, 1947

 


Huế khôi nguyên

 

Mới hôm tê chiếc lá chiều chơi vơi

Bóng thiên di chết một cành tím Huế

Tôi tìm được nửa bên nớ

Đồi Thiên An...

 

Mới hôm tê ngọn đuốc thắp suốt cung đàn

Tiếng mõ Nam ai cám cảnh phù du

Kinh thiêng niệm réo rắt tầng xa thẳm

Bên chùa Thiên Mụ...

 

Mới hôm tê thềm trăng rụng đầy lá thu

Đêm Vỹ Dạ dập dìu bến tự tình

Mấy dã khách ri đắm mình tun hút

Đập Đá cũng rứa...

 

Nếu nước mắt là hạnh phúc tràn qua khe cửa

Phu Văn Lâu hãy rũ màu sông Hương huyền diệu

Ngóng Thành cổ trầm mặc giữa mùa hoa đăng

Chân dung em hôm chừ cũng rứa...

 

Có lần cơn mưa tình đổ xuống thật bưa

Anh sinh viên ni kể chi mô những dòng sông bất hạnh

Cô tê nghe răng mà rót cả vào sâu thẳm

Mặc cho Tịnh Tâm rũ sạch bóng hồ sen tề!

 

Ôi! Còn những con phố quen mùi chân đất

Ta bỏ cuộc đời men theo đường cỏ

Để tháng năm ghi dấu một kẻ đi rong

Như Thành Huế vẫn nét khôi nguyên chào mỗi thần hôn.

 

*
 

Cái tôi có thể

 

Mở những khát vọng ra

Cánh cửa đập tan bờ sóng

Trái tim không thể hú hớ nổi ngọn gió thơ

                                                            trên đồi hoang vu

Mênh mông vỡ vụn và tự mất dần bóng tối lung linh.

 

Đến lúc khác giấc khuya vụt dậy

Tung hứng hàng hàng câu trả lời vì sao và vì sao

Trái tim không thể hú hớ nổi ngọn gió thơ

trên đồi hoang vu

Khát vọng vẫn cô độc bởi dấu chấm hỏi còn kìm kẹp

phía sau mặt trời đỏ lệ.

 

Rồi thời gian ẩn ngữ những hoài niệm thông hành

Thế giới thì luôn thức nhận trong con người chuỗi chuỗi linh động

Có thể cái tôi cao trào. Nhưng bật khát vọng ra

Có thể cái tôi quá vãng

Có thể cái tôi chưa đủ là cái tôi khát vọng

Và có thể cái tôi không thể hú hớ nổi ngọn gió thơ

trên đồi hoang vu

cái tôi có thể.


-- Lê Hưng Tiến

Lòng cây mấy thưở ai người biết | Từng khóc từng reo đã mấy lần
nhỏ xuống giọt mưa trên vai áo | câu chữ phía trước phía sau vóc dáng | nghe tiếng buồn thế kỷ ngân vang tâm thức
Gió nồm thổi rát mặt | Đấy cát chảy kinh niên | Nước nước nước tù đọng | Nhà trôi như bóng thuyền
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan... Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Collage là một nghệ thuật. Hay chỉ là một thao tác thủ công? Có người cho cắt dán ( thơ ) mang tính nghệ thuật vì có sự suy nghĩ và đồng cảm của tác nhân. Có người cho đấy là một trò chơi lắp ráp trẻ con vì sự dễ dàng của cắt xén. Có người cảm nhận thơ cắt dán là một hình thức của họa thơ tân thời. Thử nghiệm xem
Mời đọc ba bài thơ: 1. Thảnh Thơi Đường Ngộ của Hoàng Xuân Sơn. 2. Nhẫn Nại của Thy An. 3. Buổi Trưa Ấy của Trần Yên Hòa
Có ai lật dùm pho Sử Việt | 50 năm máu vẫn thấm từng trang | Có ai cầm khăn thấm hộ | 50 năm sao lệ vẫn chứa chan.
Em là con cá Hồi | mấy chục năm sống nhờ biển khác | suối nào đợi em về | cho em trầm mình gửi nắm xương da | ôi những con suối quê hương
Hãy sống thêm một ngày nữa / Tới trước cánh cửa em chưa bao giờ mở ra / Hãy đọc lời ai điếu trên mộ chúng ta / Hãy đi qua / Dòng sông mùa lũ / Đặt tâm hồn / Vào trong tay một người khác / Hãy bắt đầu / Ngồi xuống / Giữa kẻ thù / Hãy để mưa / Rơi trên nghĩa địa / Hãy để tự do làm thành trí nhớ / Của quê hương chúng ta, hãy để người thiếu nữ / Đã chết trở thành hoa, hãy bắt tay một người .
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Em biết không, khi em chết trước. Giường ngủ sẽ chết theo. Toàn thể căn nhà đều bệnh nặng.
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.