HXSon

HUỲNH LIỄU NGẠN

 

Hai giờ sáng ở một nơi không phải quê nhà

 

tôi đến thành phố vào hai giờ sáng lạnh lẽo vô hồn

cơn mưa rơi ngoài hàng hiên có con chim bồ câu trú ẩn

ánh điện vàng như thây ma bên mái chái

người homeless nằm co quắp dưới gầm cầu

đưa tay xin điếu thuốc

trời về khuya lặng lẽ như vì sao băng

tôi nhập vào hư không để thở

để ngó vào bóng đêm mong chờ một tiếng động

để không lạc đường vào cô quạnh hẩm hiu

 

hai giờ sáng ở một nơi không phải quê nhà

sao lại nhớ ai rao bánh mì khuya khoắt

tôi dựa vào chiếc ghế từ đời ông cố ông sơ

của một ngày dài hơn lịch sử

dù cây lộc vừng đã mấy lần hờn dỗi chẳng ra hoa

hàng thùy dương bờ cát trắng chan hòa

những chiều sóng xô cát đuổi

tóc tôi dài hai nhánh sông khép lại

tình ái như đám rong nằm phơi khô giữa bãi

không hề hay biết từng đoàn người

đã chìm sâu dưới đáy biển

vào một ngày biến động xa xưa

 

tôi đến thành phố vào hai giờ sáng

trời cuối năm như hấp hối lạnh lùng

làm cành cây trơ giống mặt người thiếu tuổi

người homeless lại xin thêm điếu thuốc

ở bên kia đường cây xăng còn thức

đứa con gái mặc áo ấm xuống xe

đi về phía bình minh mái tóc

rối bù theo cơn gió ẩn hiện giữa đôi chân

bước trên sỏi đá u buồn

từ xa có tiếng còi tàu xe lửa xuyên bang

làm nhớ lại bài hát tiếng còi trong sương đêm

đã nghe đã nghe và đã nghe

từ sâu thẳm của thế kỷ dại khờ

 

bốn ngàn năm tôi vẫn đi một mình

qua năm mươi tiểu bang nước mỹ

và đêm nay tôi trở về thành phố

mà ngày đầu tiên mới đến

ăn lát bánh mì kẹp thịt

uống lon coke

nhìn lỗ đen trên bầu trời khép lại

khi nỗi cô đơn là giọt nước bên thềm

của người homeless nằm co chân chờ bản tin thời tiết

mà chiến sự vẫn tiếp diễn nơi chúa ra đời

chẳng có phép màu nào làm ngưng lại được

khi máy bay không người lái vẫn vần vũ trên trời

 

hai giờ sáng như hai nỗi đời không gặp lại

ngày mai tôi sẽ quay ngược giờ theo ý thích của tôi

để mùa đông đừng đến muộn cùng giọt mưa rơi

ngoài hàng hiên sẩm tối

cho mắt tôi thôi thở dài khi ngày tháng cứ trôi qua

làm vết nhăn lên đám mây không còn vì sao cuộn lại

như khi đưa tay lục tìm một điều gì không rõ

để bật lên ánh lửa giữa đêm trường

 

ngày mai con đường có chia ra nhiều ngõ

nơi đồng bằng thấp thoáng màu áo của người xưa

như màu xanh của tỉnh thành phía bắc

chưa một lần về thăm dãy núi cao

nghe tiếng con vượn hú

cho lòng trôi từ vượn lên người

của thời sơ khai mà mẹ tôi quấn lá

đẻ ra tôi bên bụi cỏ hoang đường

 

tôi đến thành phố vào hai giờ sáng

tiếng chuông nhà thờ còn ngủ ở trên cây

thế giới bây giờ vẫn im lìm như thời đại dịch

tôi vẫn đeo khẩu trang đón chuyến xe về

vùng tuyết trắng ban sơ khi mới tìm ra châu mỹ

cùng đàn gà tây mà đến lễ tạ ơn

người ta làm thịt để ăn

hai giờ sáng của một đời người

chỉ là nỗi phù du dâu bể.

 

(20.2.2024)

 

*

 

SỬ MẶC

 

 

Búng

 

Tôi búng thơ

Thơ búng tôi

Văng đi khắp cả núi đồi nhân gian

Búng nhè nhẹ. Búng

Tàng tàng

Tới khi ngắc ngứ

Quy hàng mị nhân

 

Tôi búng tôi dậy hồng trần

Nhát quét rát buốt

Nhân thân mịt mờ

Búng vào con mắt lửa hơ

Chợt tia tử ngoại

Bơ phờ

Tóc

Râu

 

(10.3.24)

 

 

Cuồng tửu, xưa và nay

 

Nhậu em

Ngang cứ điểm này

Xin nhau da thịt cùng say nỗi đời

Nhậu em

Hết ngày chu lưu

Trái tim đỏ hỏn

Lưỡi cày hoang tê

Luống đất khai Sở vun Tề

Xuân thu chiến quốc

Mù mê cửa vào

 

Nhậu em

Tháo hết hàng rào

Giọt vu san tửu

Chênh chao lối mòn

Nhậu em

Tù đọng chon von

Khai thông một lối vuông tròn

Tử

Sinh.

 

(13.3.24)

 

*

 

SAN PHI

 

Khoảng trời yêu đã bắt tin

 

Người xa ta người có hay?
Thềm rêu đã chết trăng gầy guộc trông
Câu thơ tìm lửa đốt hong
Này tình nhân hỡi mây giăng chốn nào

Rót ta nửa chữ đồng dao
Thiền ta cạn uống người đâu cận người
Ta từ thiền tâm chơi vơi
Câu thơ bỏ lửng dòng đời ngả nghiêng

Trăm mơ nguyên bản thuyền quyên
Ta khờ, ta nắm, ta lênh đênh tình
Thức ta nét mực còn in
Thức ta mắt ướt hỏi tình nhân đâu?

Người đi trăng cũng nhạt màu
Đêm ta hái mộng nát nhàu hoang khơi
Tiếng yêu thương vút lên trời
Sương mưa tan chảy tơi bời lá hoa

Người xa ta, người đã qua
Hồn ta đã chết, trần ta còn dài
Ta gào thét nỗi oan sai!
Ta mê, ta tỉnh, ta đày đọa ta

Đồng dao ngày cũ đã già
Sợi mơ chưa hóa, lòng sa mạc ngầm
Khát khao từng giọt trăm năm
Thèm tìm con chữ, từng chăm chút tình

Khoảng trời yêu đã bắt tin


(8.3.24)

 

*

 

HOÀNG XUÂN SƠN

 

 

Lưới. khúc mắc

 

(Nghĩ về cuộc tình

    cái chết

        và những lìa xa).

 

Chưa nợ. nhưng đã hết duyên

Những xa xứ mỏi những miền hoang cư

Thạch. mộc nung nấu lò cừ

Thì tro cũng bụi tàn dư cuộc tình

Không ai màng đếm phiêu sinh

Lũ bọt nước. đau tạng hình. rêu rong

Thiếu một chữ. khuyết, tân tòng

Là xưa ghê lắm cuồng phong giục về

Ì ầm dội sóng man khê

Ngọn thủy đao cắt. gọt bề chung thân

Đừng mơ ước. đừng. khó gần

Vì cách ly là truyền nhân sống đời

Viết. rồi tứ cũng mòn hơi

Tha nhau định chế nhét nhồi tâm tư

Hãy đường bay thảnh thơi, từ

Cuộn gai dây thép chuyên tu buộc ràng

Bước tới. nữa, mùa lang thang

Ngọn đàn núi vỡ treo hang hốc tình

 

Ra về. lửa đốt u minh

Hình nhi hạ. chết thình lình. sống tươi

 

(28 March 24)

 

*

 

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

 

Tôi chỉnh đốn tôi

 

Nhiều lần tôi chỉnh đốn tôi

chỉnh eo thì cái rốn lồi lộ ra

chỉnh vòng hai lép vòng ba

chỉnh môi cái lưỡi thành loa xóm phường

 

Chỉnh dương cụ có phương cương

lại quên căn dặn người thương, rớt đời

chỉnh trong mấy chục năm rồi

vẫn là một cục rối nùi tối tăm

 

Chỉnh bao nhiêu, gã chết bằm

cũng làm thân xác băm vằm tả tơi

chỉnh làm chi nữa tôi ơi

chỉ thêm đau khổ nón cời, chiếu manh

 

Nghe chỉnh đốn rất chân thành
thật ra tôi chỉ lừa mình. Vẫn nguyên.

 

 

Chữ “fame”* kiếm ở tuổi chiều

Yêu nhiều cô gái háo fame
có sao thì cũng như mình háo thôi
văn chương ai chẳng học đòi
“Đào danh hà sở mộ’’ người thơ Cao**

Những người lây lẩy chối bay
biến là viết lách trái tay đỡ buồn
lại là những kẻ đi buôn
chữ câu kiếm chút huê hường khoe khoang

Ta yêu không chỉ một nàng
không ai nhốt được điêu tàn mù sương
fame hư thì có xem thường
phải cày cục phải đoạn trường đứt gân

Biết là thơ cũng phù vân
vẫn hơn xây mấy nhà tầng cho thuê
mai Chúa, Phật gọi ta về
tro rồi, lầu các mê mê cũng hoài

Yêu Đông mà vẫn mơ Đoài
yêu Thu Bồn vẫn nhớ Hoài giang em
chữ fame nhứt định không thèm
“cỏ cây thà nát” đắm chìm như ông***

Mặc em là gái có chồng
độc thân, góa bụa phải lòng là yêu
chữ fame kiếm ở tuổi chiều
là quà quý tặng tình yêu hoang đường

* fame:danh tiếng
** “Nhập thế hữu văn chương / Đào danh hà sở mộ” – Cao Bá Quát
*** “ Không công danh thà nát với cỏ cây” – Nguyễn Công Trứ

 

*

 

QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

 

di vật

 

lổn ngổn chất chồng

sách vở hình ảnh posters

chực chờ tung hê vương vãi 

lớp bụi thời gian chưa đủ che giấu

vết tích mồ hôi nước mắt

và máu

 

nơi humpty dumpty ngã sấp mặt

khung cảnh lắc lư hoán chuyển ngoài ý muốn

mọi bất ngờ tăng tốc sự kích thích

đứa trẻ vật vã với chứng dyslexia  ̶ ̶ ̶  loạn mắt khó đọc

cắn móng tay ngây ngô hỏi

làm gì trong mùa chay tịnh?

làm gì? làm gì?  

 

những rộn rã vội vã ngày nào

giờ đây đã chìm lắng vào lãng quên

làm gì? làm gì?  

con mọt sách mặt như ngái ngủ

hớt hải đi vào đi ra

tìm phòng vệ sinh

nắng lên phơi phới bên ngoài cửa sổ

không đủ soi sáng đống di vật rũ rượi

và cái bóng thiên thu đâu đó trong phòng. 

 


nơi chốn vẫn là

 

dưới chân đồi

không một gợn gió

giữa hai mỏm đá

là ảo giác nhấp nhô giăng mắc

thả xuống ngôn ngữ bất chợt

gập ghềnh

huyễn hoặc

cô đọng

nghẹn trong cổ họng  ̶ ̶ ̶ 

 

hình tượng thản nhiên thì thầm

tôi lặng lẽ cúi xuống bên sỏi đá

thắp ba nén nhang

lắng nghe bước chân âm vọng từ xa  ̶ ̶ ̶ 

lẩn khuất đâu đó phía ngoài vòng đai thị trấn

chực chờ trong vô thức  ̶ ̶ ̶ 

trèo lên  ̶ ̶ ̶  từng bước trèo lên

nơi đây chốn thiêng liêng vẫn là

bất chấp nét trần trụi tàn lụi trong nắng ban mai. 

 

Bước ra vườn sau nhà / Hỏi hoa Mai nở chưa / Những cây Thủy Tiên đất / Có về kịp Giao Thừa / Ta đợi năm mới đến / Đuổi tai ương đi xa / Cầu đất trời cựa mạnh / Thay mới cả hồn ta / Hồn ta như lụa mới / Nhỏ xuống giọt xuân sương / Loang loang từng cánh mỏng / Nở tung đóa vô thường.
những giọt nến chảy dài trong cõi suy niệm / nước mắt sụt sùi trên khuôn mặt sáp trắng / chạng vạng cuối đường ngẩn ngơ cuối đời / sau bao tháng năm dài mải miết rong ruổi / bước chân tha hương dãi dầu đã mỏi / này em đây mùa thay lá đây mùa đón mưa
Những cây dưa cải xanh / đang cựa mình đón Tết trong bình / những củ hành còn hăng hăng / chờ đêm 30
Tôi trồng vườn rau lưu động. / Tập chăm chút những gì người Việt xem thường. / Tập yêu thương những gì dân tôi lơ đễnh. / Tập làm đôi điều hữu ích cho vợ hài lòng.
biết đâu chúng ta sẽ thiết tha hơn / im lìm với trái tim dừng lại / phong tỏa những mối tình quá khứ / núp sau cánh cửa mùa đông / thế giới thiếu những khuôn mặt hiền từ / mang lời an ủi cho những cành hoa nở muộn
thức dậy từ bóng tối / thấy màu sắc mọc lên trên ngọn đồi** / chúng ta là hành tinh xanh / là trái đất trở mình sau cơn tắm gội / thức dậy vượt qua những hố sâu / ngước mắt nhận anh em, nhận bạn bè / chúng ta những đứa con của Mẹ*** / không thể ngủ mê trong chia rẽ.
Ta đi vào ngõ ngách / Góc khuất của quê hương / Sẽ tìm thấy nhiều người / Mang rất nhiều vết thương / Những vết thương rất đẹp / Khi ngày mới sẽ tới / bước ra khỏi bóng tối / hân hoan không sợ hãi / hực lửa không khiếp sợ
khi phố lác đác lên đèn / dao động tắt dần / chậm và nhẹ / tiếng côn trùng da diết / ̶ ̶ ̶ em yêu hãy bay lên
Tập thơ Hoa Diên Vĩ Hoang Dại (The Wild Iris) ấn hành năm 1992 đã mang lại giải thưởng Pulitzer cho thi sĩ Louise Gluck. Trước khi lãnh giải Nobel văn chương năm 2020, bà đã là một thi sĩ nổi tiếng, Đoạt một số giải thưởng và tước hiệu quan trọng, như Thi sĩ Công huân quốc gia năm 2003-2004. Bạn đọc có thể tải xuống nguyên tác phẩm The Wild Iris, Hoa Diên Vĩ Hoang Dại của thi sĩ Nobel Louise Gluck như món quà đầu năm của Ngu Yên gửi tặng.
LTS - Tại Lễ Đăng Quang của Tân Tổng Thống Biden hôm qua ngày 20 tháng 1, 2021, một hình ảnh tươi sáng gây xúc động và được nhắc đến và khen ngợi, được “shared” nhiều nhất trên các trang mạng xã hội là đoạn nhà thơ trẻ Amanda Gorman, 22 tuổi, từ Los Angeles bước lên đọc bài thơ do chính mình sáng tác. Amanda là nhà thơ trẻ nhất, và là thơ thứ năm đọc thơ trong Lễ Đăng Quang Tổng Thống, nối gót 1. Robert Frost (Lễ Đăng Quang của TT John F. Kennedy, 1961), 2. Maya Angelou (Lễ Đăng Quan của TT Bill Clinton, 1993), 3. Miller Williams (Lễ Đăng Quan của TT Bill Clinton, 1997), 4. Elizabeth Alexander (Lễ Đăng Quan của TT Barack Obama, 2009). Việt Báo mời độc giả đọc “Ngọn Đồi Chúng Ta Leo”, bản Việt ngữ của nhà thơ/dịch giả Lưu Diệu Vân.
Này, ông Đào Tiềm, / lâu quá rồi, / từ lúc chia tay ở Việt Nam. / Ông sang Mỹ hồi nào? / Đêm qua, / từ chồng sách cũ chui ra, / nhìn thấy ông / tôi vô cùng hổ thẹn. / Bốn mươi tuổi ông đã đi về. / Bảy mươi tuổi tôi vẫn còn nấn ná. / Trách nhiệm / không phải của mình mà dây dưa. / Nợ nần / không phải của riêng mà ráng trả. / Ông tìm đến Suối Hoa Đào. / “Từ người già tóc bạc, / tới trẻ để trái đào, / đều hớn hở vui vẻ.” (**)
Ngồi nhìn nhau, khôn xiết biệt ly / Lắng nghe gió hát, giọng thầm thì: / Đời chớp tắt, người đi kẻ ở / Mấy mùa ly loạn, đỏ phong thi / Đỏ phong thi, khóc lá chiên đàn / Vườn xưa lót ổ, tiếng chim tràn / Hồn ai đó, sương tan ngoài ngõ / Bông dại ướt chiều, mây tím than Mây tím than, bóng mộ tím bầm Ma quen ma lạ, miểu sầu câm Ngơ ngác đau, rồi ngơ ngác hỏi Rưng rưng cát bụi, nắng thương thầm
Khi viên đạn đã bắn ra,/ đừng hy vọng lấy lại, / đừng thất vọng / nếu không trúng đích. Nếu cây súng / có trí não, có tâm tư, / lời nói là viên đạn / gây thương tích. Người là một loại súng liên thanh. / Khạc đạn từ lúc thức dậy / cho đến tận chiêm bao. / Bắn nhiều hơn suy nghĩ./ Bắn kẻ địch. / Bắn luôn đồng minh. / Khi lời đã nói ra, / đừng thất vọng / nếu không có hiệu quả, / đừng hy vọng sẽ thay đổi ý nghĩa. Những người hiếm quí tự bắn mình, / nhiều hơn bắn người khác. / Ai có đánh máu, / mới hiểu máu khóc. / Người tự bắn mình, / phải tập mọc nhiều trái tim / khắp thân thể. /