Đọc “Thơ Khánh Trường”

02/05/202421:49:00(Xem: 3617)

KT
Khánh Trường (Photo: Nguyễn Bá Khanh)



Tôi vừa nhận được cuốn "Thơ Khánh Trường" do tác giả gửi tặng. Khánh Trường họa, Khánh Trường văn, Khánh Trường báo, ít khi chúng ta nghĩ Khánh Trường thơ, vậy mà ông thần bị bệnh tật thăm hỏi nhiều nhất nước này đã làm thơ từ năm 16 tuổi. Ông lai rai làm chơi rồi để đó, cho bụi phủ. Ông đã phụ thơ để rong chơi nơi những bến bờ khác. Lý do làm ông trở lại với thơ vì ông bị trói tay. Ông viết: "Gần đây vì sức khỏe trở nên tồi tệ, tôi không thể ngồi lâu để gõ cho xong hai tiểu thuyết đang dang dở, buồn, tôi lục lại tập giấy và post lên Facebook, cốt cho có việc để làm, một cách giết thời giờ. Không ngờ lại được không ít bạn bè tán dương, kể cả những người làm thơ đã thành danh, tất cả đều khuyến khích tôi gom lại xuất bản". Trong số người đẩy ông cho thơ góp mặt với đời có tôi, một tên chỉ biết đọc thơ, cả đời không dám vọc bút vào chốn chữ nghĩa tinh túy đó. Ông lính nhảy dù này chỗ nào cũng vọc. Thử đọc bài Vọc.
          sắc

          huyền

          nặng 

          hỏi

          ngã

          chữ nghĩa bay lả tả

          đã!


Thơ Khánh Trường ngắn ngủn, phần lớn chỉ bốn câu nhưng chuyên chở được nhiều. Văn Khánh Trường dữ dội, thơ cũng không hiền.


cái lưỡi không xương

nhiều đường lắt léo

em tròn hay méo

chấp!

Tập thơ in khổ vuông 8.5’ x 8.5’ rất mỹ thuật. Tranh bìa đẹp nhưng thuộc loại trừu tượng không cần hiểu làm chi cho mệt. Đẹp là đủ rồi. Ngay trang đầu có lời đề tặng: “Tặng cháu, Nina Hòa Bình Lê”.

Tập thơ có bề dày 249 trang gồm ba tiểu đề: ngẫu hứng, mai anh về miền Trung và những bài thơ khác và khổ lụy.

Phần “Ngẫu Hứng” là những đoạn thơ ngắn bất chợt nảy ra trong đầu trước mọi hoàn cảnh: mặc áo lính, giải ngũ,  trong hospital “giữa bốn vách tường trắng đục, bên cạnh giường các bệnh nhân cùng cảnh ngộ, giữa bầu khí vắng lặng như nghĩa trang, đợi xe rước vào lọc thận tại dialysis center, trên ghế nằm chạy thận hoặc những việc tầm phào hàng ngày như “cắn một trái cà pháo, gắp một đũa rau luộc”.

măng chua đứng cạnh hũ cà

bỗng dưng nhớ quá hương nhà năm xưa

mười năm nữa liệu về chưa

hay quê người kiếp sống thừa kéo lê?

Rao nam rao bắc cho tiểu đoạn này, tác giả cho người đọc cảm tưởng như chuyện vặt hàng ngày nhưng thơ lại nặng ký. Nhìn trời nhìn đất cũng vẫn một dấu hỏi chình chịch trong lòng.

sáng nay nhìn giọt sương hồng

đậu trên một ngọn cỏ bồng đong đưa

hỏi lòng này đã vừa chưa

cái ta mãn cuộc dư thừa sân si?

Nhưng tuy tác giả không hài ra trong phần vào đề của phần này tôi thấy ông dành tới mười hai trang cho mười hai bài thơ bốn dòng để vẽ chân dung mười hai người bạn văn của tác giả: Nguyễn Tôn Nhan, Hoàng Ngọc Tuấn, Trần Quang Lộc, Nghiêu Đề, Trương Đình Quế, Cao Xuân Huy, Cao Đồng Khánh, Vũ Huy Quang, Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo, Phùng Nguyễn, Nghiêm Xuân Hồng. Tất cả những khuôn mặt này đã ra người thiên cổ. Phải chăng đây là một nghĩa trang bạn bè trong lòng Khánh Trường?

Tôi trích ra đây đoạn viết về Nguyễn Xuân Hoàng, người bạn chung của tôi và Khánh Trường, đã xuôi tay đúng 10 năm trước đây.

ngôi nhà ngói đỏ tịch liêu

về chưa hay vẫn phiêu diêu ta bà?

cuộc đời lắm nỗi phong ba

rồi ra tất thảy chỉ là huyễn như.

Tôi không thể nào không trích đoạn viết cho Mai Thảo, hàng xóm của Khánh Trường trong chung cư dành cho người già, một cái tên mà người yêu văn học Việt Nam đều nằm lòng, suốt đời cô đơn không gia đình “sớm ra đi sớm hoa không biết / đêm trở về đêm cành không hay”.

đèn lu, ngõ vắng, thân gầy

đông hàn sương giá trùng vây bốn bề

một mình đối bóng sầu tê

quán khuya, rượu cạn, nẻo về lạnh căm.

Thơ KT 2Tiểu mục “Mai anh về miền Trung và những bài thơ khác” là những u hoài về miền quê mẹ. Khánh Trường ra đời thời tiêu thổ kháng chiến, sanh rơi tại một ngôi trường tiểu học bỏ hoang tại xã Khánh Thọ, quận Tam Kỳ. Cái tên cúng cơm Nguyễn Khánh Trường là ghép chữ đầu của tên xã (Khánh) và ngôi trường sanh rơi (Trường). Sau thời gian lang bạt kỳ hồ khắp chốn, Khánh Trường trở về và…thơ. Vào đề của phần này, ông viết: “Tôi chỉ sống một thời gian ngắn ở đây rồi lang bạt khắp mọi miền đất nước. Mười mấy năm sau trở về, đi qua nhiều vùng đất suốt chiều dài từ Nam ra Trung, tôi võ vẽ những cái gọi là thơ mỗi lần dừng chân nơi nào đó. Trong tập bản thảo vàng ố, chữ nghĩa lem nhem cậu em đã trao lại, có những bài này, đã định vất sọt rác vì thấy non nớt, biểu diễn cơ bắp kệch cỡm. Nhưng không nỡ, dù gì cũng ghi dấu một thời”.

Miền Trung được Khánh Trường nhắc tới gồm những địa danh Phan Thiết, Ba Ngòi, Đại Lãnh, Nha Trang, Bình Định, Tam Quan, Bồng Sơn, Qui Nhơn, đèo Rù Rì, Quảng Ngãi tới Châu Ổ, Nam Phước, Điện Bàn, Tam Kỳ. Khánh Trường lang thang hơi kỹ!

Tiểu mục thứ ba: Khổ Lụy. Những bài thơ trong mục này “để nhớ những ngày cơ cực” sau khi bị thương và giải ngũ. “Tôi đi xin việc. Khổ nỗi việc nặng không kham nổi, việc nhẹ thì phải có chuyên môn hoặc học vị cao, tôi, chữ không hay cày không giỏi, lại thương tật cùng mình nên chả nơi nào nhận. Gia cảnh gồm hai vợ chồng và ba con nhỏ lâm vào khốn khó. Chùm thơ này khai sinh vào thời điểm đó, bây giờ đọc lại vừa cảm động vừa buồn cười. Cảm động vì khốn khó là điều có thực. Buồn cười vì do tuổi trẻ sốc nổi và mẫn cảm thái quá đã biến sự khốn khó chỉ một, đã bị tôi cường điệu thành ba bốn, thậm chí hơn nữa, khiến nỗi đau trở nên quằn quại đến phát khiếp! Đó là một trong những lý do khiến tôi không mặn mà với chùm thơ này. Song ngẫm sâu, thấy nếu về mặt văn học chưa đạt tiêu chuẩn như mong muốn thì với cá nhân tôi, dù thế nào nó cũng ghi khắc một dấu ấn khó quên”.

Cái nghèo đói hiển hiện nhất trong ngày tết. Cỗ bàn bánh mứt nhà người làm nổi bật cái thiếu thốn nơi nhà mình. Người xưa hình như về phe những người có của ăn của để khi đặt ra tiêu chuẩn đói no ngày tết: “đói quanh năm no ba ngày tết” hoặc “đói cho chết, ngày tết cũng phải no” hay  “giàu hay nghèo, ba mươi tết thịt treo trong nhà”. Nhà nho Nguyễn Công Trứ cũng có lúc hụt chân vì tết: “Tết cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi / Nợ đâm ương ra đó, nói ba bốn chuyện cà riềng”. Khánh Trường thơ thẩn cảnh nghèo ngày tết bằng những vần tỉnh rụi:

tối ba mươi xóm riềng hỉ hả

ta ngồi buồn bó gối sờ râu

vợ lặng lẽ loay hoay cúng vái

miệng lầm rầm mắt khép lim dim

............

bên ngọn nến một bình hoa héo

ba cọng nhang thở khói mệt nhoài

ta hỏi vợ, bánh trà đâu nhỉ?

vợ cười buồn hết gạo hôm qua

Trẻ con sống theo bản năng, khát uống đói ăn. Gặp dịp được ăn là sà vào không suy nghĩ, không e ngại chi. Vợ chồng chịu đói được nhưng khổ nhất là nhìn con cái đói khổ. Đưa con tới chúc tết nhà người ta, cỗ bàn ê hề, con ăn mà cha mẹ cảm thấy xấu mặt.

nhìn con ngốn miếng chả giò

trong ba đỏ một hỏa lò lửa nung

giận con ba sắp nổi khùng

vuốt ve mẹ dỗ thôi Tùng chóng ngoan

........

uống ăn từ tốn đường hoàng

đứng đi nghiêm chỉnh họ hàng khỏi khinh

cúi đầu ba gắng nín thinh

nghĩ sâu cũng tại nhà mình thiếu ăn

Khổ lụy làm người ta đổi lốt. Trò đời như vậy. Nghèo, thiếu ăn thiếu mặc, mặc cảm cùng mình khiến tính tình cục cằn, chửi rủa vung vít.

bảy năm trước ta hiền như đất

(hiền còn hơn bụt ở trong chùa)

cơm hai bữa mỗi ngày đúng cữ

ngủ tám giờ ngon giấc tròn đêm

nhưng từ buổi thế thời xoay đảo

ta tập tành xỏ lá ba que

ta quen mồm ăn gian nói dối

ta buồn tình chửi rủa lem nhem

“Thơ Khánh Trường” là thi phẩm thứ hai của Khánh Trường. Hơn bốn chục năm trước, khi Khánh Trường làm việc cho một nhà in nhỏ, nhà in ế, ông chủ hỏi có chi in cho có tiếng máy chạy. Vậy là tập thơ “Đoản Thi Khánh Trường” bất ngờ ra đời. Chừ là tập thơ thứ hai, ra đời vào lúc tay chân bất khiển dụng, không gõ được văn đành gõ thơ cho đỡ đau tay. Cả hai thi phẩm đều bị tác giả bộc bạch cho xuống cấp: “Không tìm kiếm cái mới lạ, tân kỳ trong vần, nhịp điệu. Không vật vã, tư duy. Không mang vác bất cứ sứ mệnh nào. Không mảy may tham vọng đi vào văn học sử. Nay, một lần nữa, và chắc chắn là lần cuối cùng, tôi in tập thi thứ hai này, trong tinh thần vui thôi mà. Đúng vậy, vui thôi mà!”.

Đọc tập thơ hai lần, một lần giúp bạn hoàn chỉnh chính tả, một lần cầm trong tay thi tập đã hoàn tất, mũ mãng đầy đủ, dù sao, cũng mừng cho ông bạn nay vác trên vai thêm một chữ “sĩ”. Chữ “sĩ” mới này cũng ngang ngửa sức nặng như những chữ “sĩ” khác trên vai. Thiệt tội cái thân đa tài và đa mang!

                                                                                                                

 

Song Thao
04/2024

Thơ KT 1
Bìa tập Thơ Khánh Trường, Mở Nguồn xuất bản 2024.
Sách hiện bán trên mạng amazon.com

 

 

 

 

 

Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.
Qua khu rừng lau chiều rất ốm cọng dài ôm cọng ngắn hấp hiu làm sao ngắt được lùm hoa sóng níu ngọn thương thân bãi dập dìu
Cây xanh trên miễu đình | Hưởng bốn mùa cúng vái | Quỳ lạy những hình nhân | Thấm đẫm mùi nhang khói
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...
Thật sự chúng ta có cần/ Dựng lên hình ảnh của một người lính miền Bắc / bị người lính miền Nam thiêu sống / Mới nói lên được nỗi đau / Của cuộc nội chiến 20 năm / Chúng ta chưa đủ đau đớn / Cảnh người một dân tộc cùng màu da cùng tiếng nói / Cùng mang họ Nguyễn,họ Trần / Truy cùng đuổi tận / Căm thù,chém giết nhau / Bằng tất cả chồng chất oán hờn / Để nhân danh một chủ nghĩa nào đó
có lúc ngồi bên cửa sổ | tâm hồn lâng lâng | anh đưa em tách trà
... Thơ Trần Hạ Vi là sự hòa quyện giữa triết lý hiện đại, cảm xúc nữ tính và nhịp điệu đời sống, nơi mỗi câu chữ đều vừa biểu đạt, vừa phân tích, vừa soi chiếu – để người đọc vừa thấy mình trong đó, vừa ngỡ ngàng trước phát hiện mới về bản thân và thế giới. Phong cách này không chỉ làm nổi bật những xúc cảm đời thường được khúc xạ qua trí tuệ và ngôn từ, mà còn tạo nên một không gian thi ca nơi con người và thời đại, thân xác và ngôn từ, tình yêu và tự do cùng nhảy múa, vừa thật vừa mơ, vừa gần vừa xa, vừa dịu dàng vừa sắc sảo....
ở bên tả ngạn sương mù | áo em dính hạt mù u đến giờ | nhớ chờ anh nhé ngu ngơ | tàn cây cơm nguội đôi bờ còn thương
sau cùng thì Ba không cần nó nữa | cái thẻ có hiệu lực | hai năm hay ba năm | để được tạm trú trên đất nước của mình
Tới rồi mùa thu | Vẫn còn nắng. chưa thấy mù | Sẽ bưng mấy chậu phù du vô nhà
Chúng ta đang trôi đi đâu?! xuất hiện như một tập nhật ký chữ nghĩa, không phải để giải thích, cũng không để an ủi. Nó gợi nhiều hơn là nói, buộc độc giả phải cắm cúi dò trong đống chữ khúc khuỷu để tìm lấy một mảnh ánh sáng. Thơ của Bùi Chát không đi bằng cảm xúc bộc phát. Nó đi bằng những mâu thuẫn đẩy nhau, bằng chữ tự mổ xẻ chính nó. “Không phải cảm xúc / Mà chính là ngôn ngữ / Sinh ra thơ.” Câu thơ trông như một định nghĩa, thực chất lại là một phủ định, một cuộc đảo chính. Tình cảm ở đây không biến mất, mà bị kéo ra sau, thành phụ phẩm của thao tác chữ. Sự lạnh lẽo ấy làm cho thơ anh sáng rực, như ánh thép lóe trên lưỡi dao.
Nắng vạm vỡ leo bám lưng trưa, Ci sei tu… Em ở đó… Mùa hè nào đã đi qua. Đi qua như một tích tắc đời. Connie Francis Al di là cao vút giữa ngày, gọi nắng xuống cho đầy chiều chưa tới. Khi môi mấp máy điệu hờ tháng 9. Khi màu hoàng hổ trườn trên chiếc lá thu còn sót chút lục xanh. Như môi người còn đọng thanh xuân. Như mọi điều đã đi qua rớt lại mối diên trì...