Thơ 30 Tháng Tư 1975: Chuyện Thơ Nguyễn Phúc Sông Hương, Người Đánh Trận Xuân Lộc

29/04/202622:44:00(Xem: 1037)
blank 

Thơ 30 Tháng Tư 1975:
Chuyện Thơ Nguyễn Phúc Sông Hương, Người Đánh Trận Xuân Lộc

Trích thi tập “Tháng Tư, Lính Không Cần Hớt Tóc”, thơ Nguyễn Phúc Sông Hương. Ông sinh năm 1941. Năm 1966, với bút hiệu Thái Luân, từng xuất bản tập “Vùng Tủi Nhục”, thơ phản chiến, có bài “Bi Hài Kịch”, Phạm Duy phổ nhạc trong “Tâm Phẫn Ca”. Sau thảm cảnh người dân Huế bị CS chôn sống trong dip Tết Mậu Thân, nhiều tỉnh thành làng xóm miền Nam bị tàn phá vì chiến tranh do CS gây ra, Bút hiệu Thái Luân đã đi vào bóng tối.
Từ đó, Nguyễn Phúc Sông Hương thực sự ra chiến trường. Trước giờ thứ 25 của Saigon, nhà thơ là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Sư Đoàn 18 BB, người trực tiếp cầm tiểu đoàn dự trận Xuân Lộc ngày 29 Tháng Tư. Thi tập “Tháng Tư, Lính Không Cần Hớt Tóc” là thứ thơ đích thực của người lính làm thơ. Sau 30-4-75, nhà thơ lính đi tù gần 10 năm.

.... o ....
  
MẶC KỆ AI BỎ NHÀ, BỎ NƯỚC
(Kính tặng Thiếu Tướng Lê Minh Đảo)
  
Chiều 29 tháng tư, Tư Lệnh hỏi:
Tiểu đoàn em còn lại bao nhiêu
Về Long Bình có ai đào ngũ
Đạn dược mang theo được ít nhiều
  
Dạ, Tiểu đoàn còn ba trăm bảy,
Với đầy cấp số đạn trên lưng,
Không ai khai bệnh, không đào ngũ
Thừa sức chờ chơi trận cuối cùng.
  
Cùng Thiết Đoàn 5 trụ Tân Hiệp
Đợi chờ bắn cháy bọn xe tăng,
Mười hai giờ khuya, vang trong máy
Huấn lệnh gì đâu thật lạ lùng!*
  
Chiều nay đôi mắt Tư Lệnh đỏ
Mình tưởng giống mình mất ngủ thôi.
Bây giờ mới biết vì đau khổ
Thượng cấp bỏ đi, chạy hết rồi.
  
Dạ, Tiểu Đoàn còn ba trăm bảy
Toàn những thằng em rất chịu chơi.
Mặc kệ ai bỏ nhà, bỏ nước,
Còn lính gan lì Tư Lệnh ơi!
 
(*) Lời giã từ của Tướng Vĩnh Lộc,
Tân Tổng Tham Mưu Trưởng.
 

.... o ....
 
THÁNG TƯ, LÍNH KHÔNG CẦN HỚT TÓC
 
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài cứ để tóc dài thêm,
Giáp trận, chẳng ai cần nón sắt
Đầu trần, tóc dựng, mắt trừng lên.
 
Tháng tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài khói súng bám càng thơm,
Nòng súng tháng tư không hạ nhiệt
Lòng lính tháng tư ngọn lữa bừng.
 
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài gió lộng thổi tung bay,
Đánh giặc, bạn ta luôn bắn đứng
Oai phong sừng sững suốt đêm ngày.
 
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài gương mặt lạnh lùng hơn.
Gương mặt bao người vừa ngã xuống
Băng giá còn nguyên nét oán hờn.
 
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài, tay kẹp súng lia ngang,
Mấy mươi tăng địch phơi ngoài bãi,
Lính bộ, rừng su lấp mấy ngàn.
 
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài theo nhiệt huyết tuông tràn,
Đại liên khạc đạn lòng chưa thỏa
Huống gì quyết tử lính miền Nam.
 
Tháng tư lính không cần hớt tóc,
Tóc dài bay dưới bóng cờ bay,
Dạ thưa Tư Lệnh xin đừng phạt
Có một không hai trận cuối này.
 
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài ngang dọc giữa trùng vây.
Trùng vây! Trùng vây nào khép được
Tóc xanh dài mọc chúng ta đây.
 
.... o ....
 
NỬA HỒN XUÂN LỘC
(Kính tặng quý chiến hữu SĐ 18, anh chị LH,
ông Nhữ Văn Úy, Cựu dân biểu VNCH)
 
Nếu được như bố già thượng sĩ
Nghe tin lui quân, ngước nhìn trời,
Ném bi đông đế, cười khinh bạc
Chắc hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.
 
Còn ta nhận lệnh rời Xuân Lộc,
Lại muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng sợ áo mình đầy khói súng
Cay nồng đôi mắt gục trên vai,
 
Giây phút cầm tay em sẽ khóc,
Khóc theo, vợ lính biết bao người,
Ta biết dù tim mình sắt đá
Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.
 
Mây xa quen kiếp đời phiêu bạt,
Bỏ núi ra đi cũng ngậm ngùi,
Huống chi bóng với hình tha thiết;
Hình nghiêng chao đổ, bóng chơi vơi!
 
Bí mật lui quân nên đành phụ
Mối tình Long Khánh, tội người ơi!
Cao nguyên bài học đầy xương máu;
Một bước chân đi một xác người!
 
Sáng mai thức dậy em buồn lắm
Sẽ khóc, trách ta nỡ phụ rồi.
Lòng ta như trái sầu riêng rụng
Trong vườn em đó vỡ làm đôi.
 
Bao nhiêu gai nhọn sầu riêng đó,
Ta sẽ quỳ lên chịu suốt đời!
Nếu thật lui quân là bại trận
Thì ta nhất quyết chẳng xa người.
 
Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết;
Một mãnh khăn tang khóc giống nòi!
Chân theo quân bước hồn ta ở
Sông nước La Ngà pha máu sôi.
 
Trách mình quên rót ly từ giã
Những hồn anh kiệt đã nằm nơi...
Ôi cuộc giao tranh buồn bã quá,
Hạ bao nhiêu địch vẫn không cười.
 
Nếu được tràn quân lên Định Quán,
Đánh vùi một trận để đời vui.
Núi Chứa Chan kia sừng sừng đứng
Sư đoàn 18 sao quân lui
 
Ngựa lồng bãi chiến mà không hí,
Phải chăng ngựa chiến đã tàn hơi
Tay vung kiếm bén mà không chém
Phải chăng kiếm chủ chẳng còn người
 
Không! không! ta hiểu lòng ta lắm
Sông núi bao ngày đã tả tơi!
Người lính miền Nam đi chiến trận
Luôn khắc trong tim nghĩa giống nòi.
 
Bước chân lững thững vào Quân sử,
Nghe trống trận xưa giục liên hồi!
Đây giáo Chi Lăng, gươm Vạn Kiếp,
Tiếng hò đuổi giặc dậy ngàn nơi.
 
Đạp chốt nghe đau lòng tĩnh lộ,
Nhìn lui, lửa đỏ nhuộm góc trời,
Cao su trùng điệp rừng che mộ,
Thị trấn hoang tàn, pháo địch rơi...
 
Em ơi Xuân Lộc, ơi Xuân Lộc,
Người lính hôm qua tạ lỗi Người.
Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết
Gọi giữa đêm dài sợ lẻ loi.
 
Chân bước nửa hồn chinh chiến giục,
Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui!
Dưới hầm, ta biết em đang khóc,
Thét, gầm...pháo địch dập không thôi!
 
Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích sắt nghiến qua những xác người!
 
.... o ....
 
CHÉN CƠM LÀNG LONG THẠNH MỸ NGÀY 30/4
 
Tiểu Đoàn hai hàng đều bước
Tay không súng đạn,
Vẫn ngước cao đầu,
Dân làng bên đường
Vỗ tay chào đón,
Người được thắng trận
Ngơ ngác nhìn nhau.
 
Ba trăm người sát vai ngồi xuống,
Cởi giày, vắt vớ, nói, cười.
Nghe trong đám đông
Tiếng ai sụt sịt
Các chú lính ơi!
 
Mẹ già đem cơm, canh, cá,
Các con ăn nhiều cho no,
Nhìn bầy con ăn ngon quá,
Mẹ vui, cảm động khóc òa.
 
Sư già rộng mở cửa Phật,
Đêm nay thầy không thĩnh kinh
Các con vào chùa yên ngủ*
Quên ngày gian khổ chiến chinh.
 
Chuyện xưa nhiều khi nhớ lại,
Tưởng chừng như mới hôm qua,
Chén cơm làng Long Thạnh Mỹ
Chan canh với hạt lệ nhòa...
 
*Chùa xã Long Thạnh Mỹ, Thủ Đức
 
.... o ....
 
LẼ RA PHẢI CHẾT TẠI SÀI GÒN
  
Từ khi bỏ tuyến thép Xuân Lộc
Tiểu đoàn còn lại hơn ba trăm
Lội ruộng, băng đồng về tiếp cứu,
Tiếc thay chưa đến được Sài Gòn!
   
Sài Gòn đã mất, tay còn súng
Anh em muốn kéo hết lên rừng.
Ta lắc đầu: đừng thêm máu đổ,
Họ với mình đều là Việt Nam.
  
Rồi tự đun đầu vào cửa ngục
May ra được làm kẻ... đàng hoàng!
Mười năm tù ngục ta thường hỏi
Họ với mình cùng là Việt Nam
  
Tại sao lại dừng chân, buông súng
Tại sao không chiếm lại Sài Gòn
Lẽ ra đừng bao giờ buông súng
Lẽ ra phải chết tại Sài Gòn.
  
(Trích từ thi tập “Tháng Tư, Lính Không Cần Hớt Tóc” của nhà thơ Nguyễn Phúc Sông Hương)

 



tìm mãi không ra con đường bất tận / chở thương yêu về ruộng đồng / nơi có những chôn giấu thầm lặng / phôi pha theo đất đỏ phù sa / bao nhiêu lần dang tay réo gọi / níu về phía mặt trời
Tôi khuyên ông tạm dừng ra quán uống rượu uống cà phê / bạn ta theo đảng Dân Chủ cũng nhiều mà Cộng Hòa cũng lắm / động tới chuyện bầu cử, vaccine, covid, khẩu trang / thế nào cũng có khả năng choảng nhau văng nước miếng / lúc say máu ngà có tránh trớ virus gì đâu?
“Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa / Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua / Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa / Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”
Cả Trung Quốc, một cõi người đông như cỏ, mới có một tài năng thần kỳ như Bào Đinh, cắt thịt như gió xuyên qua lá, tưởng chừng là loạn đao, mà lại thứ tự lành nghề, đạt đến kỹ thuật cao, và nghệ thuật độc nhất vô nhị. Nhưng vài mươi năm sau, ông ta qua đời. Từ đó, không còn ai thừa kế. Tài năng vượt thời gian trở thành truyền thuyết. Về sau, biết bao nhiêu người vì truyền thuyết đã mơ tưởng tu luyện để tiến đến nghệ thuật kỳ tài. Vì không thể nào lưu truyền, tài năng cắt thịt không mang lại ích lợi chung là bao nhiêu.
khi tôi ngước mặt trả lời / bà đã quay lưng / nắng sớm vươn theo lấp lánh / trên tóc trên vai / áo phất phơ bay trong gió
chút ánh sáng của núi rạng đông / phương đó quê hương là mặt trời / rót chén rượu ân tình nắng ấm / lòng xao xuyến như lần đầu tìm nhau / tấm lòng như con nước dâng cao / hạnh phúc như đến từ vũ trụ / giấc mơ vẽ lên bức tranh trăm nỗi / cuộc tương phùng cuối đời
Thơ ông có bí mật ma thuật ra sao? Xin đọc Howl (Hú), bạn đọc sẽ thấy chữ nghĩa biến hóa, phẩm chất văn chương văn học, cách mạng văn học, hòa tan vào nhau, cuồn cuộn bất ngờ, như múa lân, không biết lúc nào nó ngóc đầu, đập đuôi, xàng xê, nhảy cao, trồn đồn, lăn chiên. Đám muá lân đó, có Bùi Giáng đóng vai tề thiên đầy phép tắc và huyền thoại.
Saigon mẹ tôi không miếng trầu tươi / Không miếng vôi nồng, môi miệng biếng cười / Mẹ ngồi lặng nghe từng con số tới / Số cứ tăng dần, mắt Mẹ lệ rơi
bất kể dự báo thời tiết hôm nay & mười ngày tới / ở một nơi rất riêng tư ̶ ̶ ̶ trước không hề có tên / nay gọi vùng vịnh bóng đè / đối mặt một đại dương chưa bao giờ phẳng lặng
Ba bài thơ trên được trích từ tập sách "Không Đứng Mãi Trong Tranh" của Lê Chiều Giang, sách gồm những bài tùy bút ngắn tác giả viết "Mà như vẽ lại... không hề tẩy xóa, chẳng tô vẽ thêm..." và những bài thơ "hiện thực đầy ẩn dụ". "Không Đứng Mãi Trong Tranh" của Lê Chiều Giang là cuốn sách đầu tay và duy nhất được tác giả gởi tặng đến những người bạn của Nghiêu Đề và bạn Cô, với lời Nguyễn Thị Thụy Vũ viết thay đề tựa: "Chúng tôi sẽ đọc Lê Chiều Giang, những giòng chữ chảy lui về quá khứ. Một quá khứ không thể nào không nhắc tới, nhớ tới... Những quá khứ của thời đã "Chết đi, sống lại." Đọc Lê Chiều Giang là đứng lùi lại, ngắm nhìn những bức tranh vẽ lại kỷ niệm, bạn bè, tình yêu, những điều rất xa xưa, bằng cặp mắt của hiện tại, bức tranh của những tháng ngày cũ ẩn hiện bằng cảm xúc riêng của tác giả, nhưng rất chung như chính trăn trở của bạn bè, thế giới, thời đại của Cô. Đọc thơ Lê Chiều Giang, là để ngọn khói trong lòng mình bay lên, là "Mổ trái tim.
Thơ ba dòng là một thứ “hố đen” trong vũ trụ thơ. Đó là thứ “thơ còn lại” sau khi thiêu rụi những rườm rà, những quy cách, những lối mòn của những đường lối thơ đã trở nên chán ngắt mà, trong đó, nổi bật nhất, là sự mượt mà du dương của chủ nghĩa lãng mạn. Thơ ba dòng, do đó, là thơ để nghĩ hơn là để ngân nga như những nhạc điệu êm tai và, trong tương tác với người đọc, như là một thứ thơ đã nén chặt, nó sẽ bùng nổ theo những liên tưởng và suy tưởng không ngờ.
Thanh âm một cõi Sa Bà / Ba ngàn thế giới cũng là tại tâm / Nước non chung một cung trầm / Máu sa lệ sót những lầm than đau
Mối tình đầu đã giết dì tôi / như người ta giết bông hoa / cắm lên bàn thờ / héo hon tháng ngày còn lại. / Dì tôi yêu thích và buồn theo tiếng hát / “Đồi Thông Hai Mộ” / Như thể mối tình trong ca khúc này / là tâm sự của dì tôi.