Tháng Sáu

18/07/202609:04:00(Xem: 638)

  

Khanh Trường Phục Sinh
Tranh Khánh Trường Những Ngày Cuối

 

 

Bám

 

Lòng tôi như lòng chữ

không bám được nhau

 

Cơn mưa không bám tháng 6

tháng 6 không bám tôi

 

Cuộc đời này, nếu tôi còn bám

có thể là vài giọt mưa rơi.

 

 

Rất Saigon

 

Vẫn còn gà gáy trưa

vẫn còn tiếng ve sầu

vẫn còn tiếng gầm cóc nhái

 

Tháng 6-2026, và

tôi

vẫn không chạm đất

 

Có thể một bài hát

có thể một vỉa hè

có thể một quán nhỏ

vẫn là sức hút

rất Saigon.

 

 

Thú Tội

 

Khi buồn

chữ hóa đá

 

Khi nhớ

chữ mọc rêu

 

Khi yêu

chữ nhắc

 

Tôi làm thơ

tức tôi thú tội.

 

 

Hỏi

 

 

Ngắt câu và rẽ

vào một ly cà phê bờ sông

 

Xuống hàng và chạm

nắng sớm

 

Lắng nghe và dịch

lời chim hót

 

Đạp thắng và

hỏi

 

Sao tôi

ở

thế giới này.

 

Lê An Thế

 

30-6-2026

 

 

mặt trời mặt trăng chiếu sáng nhân cảnh phì nhiêu / núi đồi bầu ngực vuông tròn / phập phồng hơi thở trần gian / suối sông mãi là bạt ngàn / một đời phiêu lãng / trôi theo sương khói...
Ta loài cỏ chưa một lần bén rễ / Trên đất này ta là khói bơ vơ / Phải đêm xưống hay bình minh ló dạng / Mặt trời hồng chưa một bước đi xa...
Có ai thật sự thấy thi sĩ? | Có ai thật sự hiểu thơ? | Thơ vẽ hoa Hướng Nguyệt | tròn như trăng | cánh trong như gương | nhìn thấu thế giới nhụy như viễn vọng kính nhìn vào không gian.
Những khúc thơ ngắn của nhà văn Trần Hoàng Vy. Cảm xúc cô đọng, bất ngờ...
phân thân ̶ ̶ ̶ bạn nói phân thân / nhẹ nhàng tách rời khỏi xác / lênh đênh trên dòng chảy vô hạn / bềnh bồng trong bầu sinh quyển phi trọng lượng / như lạc vào một bức tranh chagall...
Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.