Một tiếng nói bước ra từ hầm ghe
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Đây là lý lịch của cả một thế hệ: thế hệ thuyền nhân, thế hệ vượt biên cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, thế hệ những đứa trẻ rời Việt Nam khi đã đủ lớn để nhớ nhưng còn đủ trẻ để phải trưởng thành trong một nền văn hóa khác. Toàn bộ con người và vị trí của Nguyễn Hoàng Nam được định hình từ cái kinh nghiệm gốc ấy: kinh nghiệm của kẻ ra đi bằng đường biển, sống sót qua trại, rồi tái định cư ở miền Nam California, vùng đất của Little Saigon, của Quận Cam, mà thơ ông sau này nhắc đi nhắc lại: Bolsa, Huntington Beach, Santa Barbara, coast highway.
Thế hệ 1.5: kẻ đứng giữa hai bờ
Giới nghiên cứu văn học di dân gọi thế hệ của Nguyễn Hoàng Nam là thế hệ 1.5, không phải thế hệ thứ nhất đã trưởng thành trọn vẹn ở quê nhà rồi mang theo một quê hương nguyên khối trong ký ức, cũng không phải thế hệ thứ hai sinh ra và lớn lên gần như hoàn toàn trong văn hóa bản xứ. Thế hệ 1.5 là thế hệ giao thoa hay cầu nối: đủ Việt để không bao giờ thành Mỹ trọn vẹn, đủ Mỹ để không bao giờ về với Việt một cách nguyên.
Vị trí treo lửng này không phải là một chi tiết tiểu sử bên lề. Nó là điều kiện sinh tồn của cả con người ông. Một người thuộc thế hệ thứ nhất có thể viết bằng thứ tiếng Việt đã hoàn chỉnh từ quê nhà; một người thuộc thế hệ thứ hai có thể chọn viết bằng tiếng Anh. Nguyễn Hoàng Nam rơi vào đúng cái kẽ ở giữa: ông phải viết bằng một thứ tiếng Việt vừa là tiếng mẹ đẻ vừa đã bắt đầu rạn nứt, pha trộn, va đập với tiếng Anh của đời sống thường nhật. Chính cái vị trí ấy, chứ không phải một lựa chọn thẩm mỹ thuần túy, đã đẩy ông tới chỗ trở thành một nhà thơ không giống ai.
Từ lục bát ngọt ngào đến quyết định lột xác
Một điều mà tập thơ những năm 1980–2000 cho thấy, Nguyễn Hoàng Nam không sinh ra đã là nhà thơ tiền vệ. Những bài sớm nhất của ông được viết bằng vần điệu rất mực thuần thục, thậm chí mềm mại. Mưa, nhớ người phía bắc (1988) là một bài lục bát về tình yêu xa cách, với những câu như "đưa tay hứng hạt tần ngần / nhờ mưa mới được một lần nhớ nhau". Vài chuyện vặt mùa xuân (1990) cũng là lục bát, nhìn cái Tết tha hương bằng con mắt đã bắt đầu tỉnh táo đến lạnh: mùa xuân quê người chỉ còn là vài cánh thiệp, tờ lịch in hình đào Hồng Kông, và "một mình tôi đứng vỗ tay".
Điều này quan trọng vì nó cho thấy sự cách tân của Nguyễn Hoàng Nam không phải là sự vụng về của kẻ không biết làm thơ truyền thống nên đành phá. Ông biết làm vần, và làm khéo. Ông phá vì đã chọn phá, một quyết định có ý thức, đến từ niềm tin rằng cái khuôn cũ không còn chứa nổi cái thực tại mà thế hệ ông đang sống. Đó là một sự lột xác chứ không phải một sự bất lực. (Quyết định lột xác ấy diễn ra bằng những thủ pháp gì, ta sẽ phân tích kỹ ở Bài 2.)
Tạp Chí Thơ, Hợp Lưu, một thời đại sôi động
Nguyễn Hoàng Nam trưởng thành cùng phong trào cách tân thơ Việt hải ngoại thập niên 1990, mà trung tâm là tờ Tạp Chí Thơ (ra đời năm 1994, do Khế Iêm và một nhóm anh em chủ trương) cùng tạp chí Hợp Lưu, bên cạnh Thế Kỷ 21 và Văn Học.
Đây là một thời đại đáng quý mà ngày nay nhìn lại càng thấy rõ giá trị. Ở quê nhà suốt một thời gian dài sau 1975, người làm văn chương bị trói trong cơ chế; nhiều tài năng lớn về sau đều tiếc đã phí phạm sức sáng tạo của mình. Trong khi đó ở hải ngoại, một nhóm người Việt phần lớn còn trẻ được hưởng thứ tự do mà văn chương cần nhất: tự do thử nghiệm, tự do thất bại, tự do nói thẳng. Họ đọc trực tiếp thơ Âu–Mỹ đương đại và đem những trào lưu ấy vào tiếng Việt mà không qua một bộ lọc kiểm duyệt nào. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, chủ bút Văn Học, từng ghi nhận chính nhờ không khí ấy mà bao cây bút trẻ đã viết hăng hái, trong đó có Ngu Yên, Chân Phương, Đỗ Khiêm, Lê thị Huệ, Đỗ Quyên, những cái tên sẽ còn lại trên trang sử.
Trong cái làng văn nghệ trải khắp thế giới ấy, Nguyễn Hoàng Nam không chỉ là một người làm thơ. Ông là một trong những kẻ "đốt lò", vừa sáng tác, vừa tổ chức, vừa lý luận. Tư liệu để lại cho thấy ông đã thực hiện những cuộc phỏng vấn và điều tra công phu cho Tạp Chí Thơ. Tiêu biểu là một cuộc khảo sát lớn về thơ vần: ông gửi trên bốn mươi lá thư cho các nhà thơ, chủ bút và nhà phê bình ở khắp nơi, đặt cùng một câu hỏi về quan niệm đối với vần điệu, rồi tổng hợp các câu trả lời. Những bậc đàn anh như Tô Thùy Yên, Luân Hoán, Triều Hoa Đại, Đỗ Quyên đều tham gia. Một người trẻ huy động được cả một thế hệ vào một cuộc tranh luận học thuật nghiêm túc như thế là điều hiếm.
Vai trò kép này, vừa là tay phá phách táo bạo, vừa là người tổ chức diễn đàn nghiêm túc, là một nét rất riêng. Nguyễn Hoàng Nam không phải kiểu nhà thơ tự nhốt mình trong tháp ngà. Ông là kẻ nhập cuộc, kẻ gây sự, kẻ đứng giữa chợ mà hô hào. Trong bài luận chiến Nhảy liền tới đoạn 4 cũng được (Hợp Lưu số 13), ông tự nhận mình là "kẻ sĩ phu của thời đại" rồi lập tức giễu cái danh xưng đó đến tan nát. Cái tự cười nhạo ngay khi vừa tự phong ấy là dấu hiệu của một người hoàn toàn ý thức về sự lố bịch của mọi tư thế "đại diện văn chương", kể cả tư thế của chính mình.
Người dám nói "thơ hải ngoại đang đi trước"
Một luận điểm Nguyễn Hoàng Nam nêu từ giữa thập niên 1990, và nêu một cách ngạo nghễ, là: vào thời điểm đó, thơ Việt hải ngoại đang đi trước thơ trong nước. Giữa những lời đả kích cái mà ông gọi là "làng văn chương Việt kiều", các buổi ra mắt sách biến thành tiệc nhậu giành microphone, các trung tâm văn bút chẳng khác gì bàn nhậu, nạn "lạm phát chữ nghĩa", thói bè phái nịnh hót, ông vẫn liệt kê vài "tia sáng le lói", và một trong số đó là sự khẳng định rằng thơ Việt kiều vẫn bỏ xa thơ trong nước.
Cần đặt câu nói này đúng bối cảnh. Đây không phải sự kiêu căng vùng miền, mà là một nhận định về điều kiện sáng tạo: ở nơi có tự do, nghệ thuật có cơ hội đi xa hơn ở nơi bị kiểm duyệt. Nhiều thủ pháp mà mãi sau này thơ trong nước mới tiếp cận đã được nhóm Tạp Chí Thơ và Hợp Lưu thực hành từ đầu thập niên 1990. Sự ghi nhận đáng kể nhất đến từ chính trong nước: nhà phê bình Inrasara, trong tham luận năm 2008 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, khi điểm những bài thơ hậu hiện đại tiêu biểu của thơ Việt, đã chọn đưa một bài của Nguyễn Hoàng Nam vào, đặt ngang hàng với những tên tuổi cách tân hàng đầu trong nước lúc ấy.
Phải công bằng mà nói thêm: luận điểm "hải ngoại bỏ xa trong nước" cũng mang dấu vết của một thời điểm cụ thể. Chỉ vài năm sau, chính trong nước đã bùng nổ những hiện tượng như nhóm Mở Miệng, Giấy Vụn, đẩy thơ hậu hiện đại đi rất xa. Sự thật phức tạp hơn một khẩu hiệu: có giai đoạn hải ngoại đi trước, có giai đoạn trong nước vọt lên. Cái nhìn lành mạnh nhất, như chính Inrasara kết luận, là xóa bỏ mặc cảm trung tâm/ngoại vi. Dù sao, điều cần ghi nhận về Nguyễn Hoàng Nam là ông không chỉ tuyên bố mà còn làm: thơ ông là bằng chứng cụ thể cho điều ông hô hào.
Bài thơ dựng ra một kẻ thù
Nguyễn Hoàng Nam tự dựng ra một kẻ thù bên trong chính bài thơ của ông, một giọng biên tập giả để tự phá hoại chính cảm xúc mà bài thơ vừa tạo ra.
Toàn bộ bài thơ “gia tài” là lời trăn trối của một bộ phận sinh dục đang hấp hối, xưng tội với "đàn bà," xin lỗi vì đã khiến tác giả không dám sinh con, sợ AIDS, rồi kết bằng một câu gần như thống thiết: "đã không làm rạng danh người đi trước và không có gì để lại cho thế hệ sau này." Đây, nếu đọc trần trụi, là một khoảnh khắc bi hài thật sự cảm động, một anh hùng ca bị lộn ngược nhưng vẫn giữ được dư vị đau xót của một lời trăn trối thật.
Nhưng ngay dưới đó, tác giả gắn một chú thích ký tên LTS, tức Lời Tòa Soạn, giọng của một ban biên tập giả định, và để chính giọng ấy xé toạc bài thơ vừa viết: "Một màn lừa bịp độc giả. Trò màu mè không che đậy được những âm thanh nhàm chán, vô nghĩa." Rồi đến câu kết đầy xúc động nhất của bài, chính lời tòa soạn giả ấy gọi thẳng đó là một mánh rẻ tiền: "tác giả ngang nhiên nhét đại 'nợ núi sông' vào để làm hài lòng những người thích loại đoạn kết này."
Đây không phải một trò tự trào thông thường. Tự trào là khi tác giả cười chính mình bằng giọng của mình. Ở đây Nguyễn Hoàng Nam làm việc khác hẳn: ông mượn nguyên bộ máy quyền lực biên tập, thứ vốn đứng ngoài và phía trên tác phẩm để phán xét nó, rồi đặt bộ máy vào chính văn bản của mình, biến nó thành một cơ quan kiểm duyệt nội tại chuyên đi triệt hạ cảm xúc thật vừa mới thoát ra được một dòng. Ông không cho phép bài thơ của mình có được một giây phút thành thật không bị canh chừng. Ngay khi cảm xúc chớm chạm tới chỗ có thể làm người đọc mềm lòng, ông đã tự tay phán vào đó một tiếng nói cao hơn để dập tắt nó trước khi bất cứ nhà phê bình thật nào kịp lên tiếng.
Ở đây ông không tấn công cái sáo ngữ của người khác, ông tấn công ngay chính khả năng xúc động của bản thân mình. Có vẻ như đối với ông, được rung động, hay khiến người khác rung động, tự nó đã là một tội đáng ngờ, gần giống thứ tội của "thói quen lãng mạn" mà ông từng công kích không thương tiếc ở người khác trong Cách Đọc. Cho nên khi chính ông lỡ viết ra được một đoạn có sức nặng cảm xúc thật, ông không dám để nó đứng yên. Ông phải tự tay đóng dấu ngờ vực lên nó, như một người sợ bị bắt quả tang đang thành thật, phải tự thú trước khi ai kịp tố cáo.
Một đường vòng dài: từ kẻ phá phách thành người gìn giữ chữ
Chân dung Nguyễn Hoàng Nam sẽ không trọn nếu dừng lại ở thập niên 1990. Con người từng viết những bài thơ tục tằn, gây hấn nhất của thời ấy. Vế sau, thơ ông nhẹ nhưng sâu sắc hơn: máu không thấm mặn / môi không đẫm mềm / sao mình phải có ở đây / đèn phòng thoi thóp phóng xạ / hành tinh đen đúa mặt trời … bên dưới chữ là tư duy dày nghĩa, ông kết thúc bài thơ Thực Nhật bằng: rung dây đàn / sợi sáng lẩn trốn bên trong vừa đứt. Tạo ra cảm giác vừa thất vọng vừa xem thường, nhưng phải sống “ngẩn lên”. Bài thơ lập lại chín lần “ngẩn lên”.
Ông không chỉ làm thơ, ông còn viết tiểu luận và dịch thuật. Ông dịch những bài thơ khó như Tình Ca của j. alfred prufrock của T.S. Eliot. Dịch thơ luôn là vấn đề dễ phản bác hơn dịch văn xuôi, tuy nhiên, dịch thơ là việc cần thiết cho thơ ca Việt bắt được tầm nhìn xa rộng và biết được sự phát triển theo thời đại của thơ thế giới. Ông còn dịch một số tác phẩm việt qua Anh ngữ, như thơ Mai Thảo, truyện Cao Xuân Huy, Trần Sao vàng, Phạm Việt Cường …
Vì sao chân dung này đáng nhìn kỹ
Trong bức tranh thơ Việt hải ngoại nửa thế kỷ qua, Nguyễn Hoàng Nam giữ một vị trí mà ít người thay thế được. Ông là tiếng nói trọn vẹn nhất của thế hệ 1.5, thế hệ phải tự phát minh ra ngôn ngữ cho cái kinh nghiệm chưa từng có của mình. Ông vừa là người sáng tác vừa là người tổ chức và lý luận cho cả một phong trào vừa dịch giao thoa hai ngôn ngữ. Và sự nghiệp ông vẽ nên một quỹ đạo hiếm: từ chàng trai làm lục bát ngọt ngào, qua kẻ phá phách dữ dội nhất của thơ tiền vệ, đến dịch giả và người gìn giữ chữ nghĩa của tuổi đang về theo nắng.
Nguyễn Hoàng Nam như tôi biết là một nhà thơ thực sự, một nghệ sĩ đúng nghĩa, không tham, không cố, bất cần những gì nặng nề, lấy chữ nghĩa làm vui và một niềm vui đầy ý nghĩa.

