Hôm nay,  

Tưởng niệm Giáo Sư Trần Quang Hải, người mang chuông đi đánh xứ người

31/12/202108:55:00(Xem: 5714)
blank

Chân dung GS Trần Quang Hải

 

Tin Giáo Sư, Nhạc Sĩ Trần Quang Hải qua đời được loan đi khắp nơi ở trong và ngoài nước, từ trước khi ông thật sự mất một ngày. Sau đó, nữ danh ca Bạch Yến, phu nhân của ông đã chính thức xác nhận ông đã ra đi vào rạng ngày 30 tháng 12, 2021 tại Limeil Brévannes, Pháp Quốc.  Ông mất vì bị chứng ung thư máu, hưởng thọ 77 tuổi.
 

Nghệ sĩ, Tiến Sĩ Trần Quang Hải(1944-2021), nguyên là con trai của nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Trần Văn Khê và là hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ cung đình Huế Trần Quang Thọ. Chú ba của ông là Ca sĩ Trần Văn Trạch. Một danh ca và nghệ sĩ hài nổi tiếng với làn hơi thật trầm ấm. Ai cũng từng đã nghe Trần Văn Trạch hát bài "Sổ số kiến thiết quốc gia" tại miền Nam Việt Nam trước 1975. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Sương - cựu giáo sư Anh văn Trường nữ trung học Gia Long. Xuất thân từ 1 gia đình giàu truyền thống âm nhạc cổ truyền, ông sử dụng nhuần nhuyễn các nhạc cụ và thông thạo hai ngôn ngữ Anh, Pháp. Khi còn ở Việt Nam, nghệ sĩ Trần Quang Hải là cựu học sinh Trường trung học Pétrus Ký, sau đó tốt nghiệp Nhạc Viện Âm Nhạc Sài Gòn ở bộ môn vĩ cầm của cố giáo sư Đỗ Thế Phiệt. Ông sang Pháp năm 1961 học tiếp tại Đại học Sorbonne và trường Cao đẳng Khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Ông kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến vào ngày 17-6-1978 tại Paris (Pháp). Sau khi thành hôn với ông, bà Bạch Yến cùng chồng đi lưu diễn và phổ biến nhạc dân tộc Việt Nam khắp thế giới.
 

blank

Vợ chồng GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến.

 

.

Giáo sư Trần Quang Hải bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS - Centre National de la Recherche Scientifique) với đội ngũ nghiên cứu tại Viện Dân tộc nhạc học của Viện Bảo tàng con người (Département d'ethnomusicologie du Musée de l'Homme) từ năm 1968 cho tới 2009 thì về hưu.
 

Tôi đã từng quen biết ông từ trước năm 2000 và đã viết bài phỏng vấn ông đăng trên Talawas năm 2004 về tình trạng âm nhạc thời đó, nhân vụ một bài viết nói về âm nhạc hải ngoại gây nhiều tranh cãi của nhạc sĩ Quốc Bảo. Đó là bài, " Trần Quang Hải, ở hải ngoại tôi không có ai tiếp nối".
.
Trong bài phỏng vấn giáo sư đã tâm sự về chính mình như sau:
 

1. Tôi sinh ra trong một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ hơn 150 năm, là đời thứ 5 trong gia đình họ Trần và được hấp thụ hai nền âm nhạc Đông Tây.

2. Cái may mắn thứ hai là tôi được học suốt 10 năm, vừa thực tập vừa học lý thuyết nhạc Á châu tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre of Studies for Oriental Music) tại Paris do thân phụ tôi làm giám đốc. Tôi được học nhạc truyền thống Ả rập, nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ, nhạc Trung quốc, Đại Hàn, Nhật, Nam Dương. Chính sự tiếp xúc trực tiếp với những truyền thống nhạc dân tộc của các quốc gia Á châu qua các nhạc khí mà tôi luyện tập đã làm giàu số vốn âm nhạc sẵn có trong tôi, và mở rộng tầm mắt tôi trong việc sáng tác và trình diễn.

3. Cái may thứ ba là tôi học nhạc cổ điển Tây phương ở trường quốc gia âm nhạc Sài Gòn (1955-61), và sau đó theo học lớp sáng tác nhạc điện thanh (electro-acoustical music) năm 1965 với cố nhạc sư Pierre Schaeffer, người sáng lập ra nhạc điện tử (electronic music), và nhạc cụ thể (concrete music).

4. Cái may thứ tư là tôi học môn nghiên cứu nhạc học (musicology) tại đại học đường Sorbonne (1962-67) để có dịp nghe tất cả loại nhạc cổ điển Tây phương từ thời Trung cổ tới đương đại (Schönberg, Xenakis, Boulez, v.v.). Từ năm 1962 tới 1969 tôi học thêm bộ môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) để khám phá gia tài âm nhạc truyền thống thế giới.

5. Cái may thứ năm là tôi được đào tạo thành một nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, thủ đô của văn hóa và văn minh thế giới, và tạo cả một sự nghiệp âm nhạc từ hơn 40 năm qua. Tôi thuộc thế hệ tiên phong của bộ môn nghiên cứu dân tộc nhạc học, tham gia tích cực vào phong trào chấn hưng dân nhạc tại Pháp và Âu châu từ năm 1965 tới 1975.

6. Cái may thứ sáu là tôi vừa là nhà nghiên cứu và vừa là nhạc sĩ trình diễn. Tôi đã trình diễn trên 3.000 buổi tại hơn 60 quốc gia trên thế giới, tham gia tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền thống quốc tế.".

       
Ông đã có nhiều nghiên cứu về lối hát đồng song thanh, phát triển kỹ thuật gõ muỗng, biểu diễn đàn môi.

.
blank

GS Trần Quang Hải đang trình diễn Đồng Song Thanh.

 

.

Ông gắn bó với muỗng, được đặt danh hiệu "vua muỗng" sau khi chiến thắng một cuộc thi gõ trong khuôn khổ Đại nhạc hội dân nhạc tại Cambridge (Anh) năm 1967. Ông từng biểu diễn gõ muỗng trong hơn 1.000 chương trình. Năm 2012, ông được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục Người trình diễn đàn môi tại nhiều quốc gia nhất thế giới. Khi được tôi hỏi âm nhạc cổ truyền và kỹ thuật hát đồng song thanh ông chia sẻ:


 

"Về nhạc cổ truyền, cách đây 50 năm, ít có ai để ý tới nhạc cổ truyền nói chung. Nhạc sĩ Ravi Shankar, một danh cầm đàn Sitar Ấn độ, đã chinh phục Tây phương từ cuối thập niên 50. Ông còn là thầy của George Harrisson (một nhạc sĩ của nhóm The Beatles), của John Coltrane (Jazz). Ông đã làm vang danh nhạc Ấn độ khắp nơi trên thế giới. Ảnh hưởng của nhạc Ấn độ có thể tìm thấy ở nhạc đương đại Âu Mỹ (sáng tác của nhà soạn nhạc Pháp Jacques Charpentier), ở nhạc trẻ pop (The Beatles, và nhiều nhóm nhạc pop khác trong thập niên 60 ở Anh Quốc). Gần đây nhất, kỹ thuật hát đồng song thanh của dân Tuva, dân Mông cổ, và dân Xhosa (Nam Phi) được thế giới khâm phục. Cách đây 30 năm, nguyên cả xứ Tuva và xứ Mông cổ chỉ có khoảng vài chục người biết về kỹ thuật hát hai giọng cùng lúc này. Năm 2004, tại hai quốc gia vừa kể có trên 3.000 người hát chuyên nghiệp và hàng năm đều có tổ chức đại hội liên hoan hát đồng song thanh. Ngày nay, Đàn môi Mông của miền thượng du Bắc phần Việt Nam đ ã trở thành nhạc khí bán chạy nhất ở Âu Mỹ, đến nỗi có một người Đức đã làm một trang nhà lấy tên là Đàn Môi chuyên bán đàn môi Mông (www.danmoi.de),một phần lớn là nhờ vào sự biểu diễn đàn môi Mông do tôi trình diễn từ hơn 20 năm nay tại nhiều đại hội liên hoan nhạc dân tộc trên thế giới. Nhạc cung đình Huế, ca trù, múa rối nước của Việt Nam đều được thế giới ngưỡng mộ."
 

 Ông giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác hơn 500 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại, thực hiện 23 đĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết 3 quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và là hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.
 

 Biết ông đã lâu, điện thư qua lại thân thiết với ông như tình anh em. Mỗi lần trò chuyện hỏi han ông đều cho biết ông mới đi lưu diễn ở quốc gia này về và sẵn sàng cho một chuyến đi sắp tới ở một ớc khác. Cuộc đời ông là những chuyến đi bất tận đem cái hay, cái đẹp của âm nhạc và văn hoá cổ truyền reo rắc nơi nơi. Bước chân ông đi tới đâu đều được đón tiếp nồng hậu. Ông thường gởi cho tôi xem hình ảnh ông thưởng thức những món ngon, vật lạ ở những nơi ông ghé qua. Trông ông khi ấy thật hạnh phúc. Vậy mà khi ông làm việc thì rất nghiêm túc vì tôi từng làm việc với ông trên những bài viết. Ông làm việc rất chuyên nghiệp, kỹ lưỡng và uyên bác. Ông hay giúp đỡ tôi tìm kiếm những bài hát xưa hiếm quý hay một số kiến thức về âm nhạc. Giao tình bao nhiêu năm mà chưa bao giờ gặp mặt. Mãi đến năm 2019, hai anh em mới thực sự gặp nhau lần đầu tại Hoa Kỳ.
 

Lúc nghe tin ông, mắc một bệnh nan y là ung thư máu, tôi và các anh chị em trong nhóm "Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian" rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải. Tôi đón chào ông đến và đã viết một bài tường trình về sự kiện "Đại Học Calstate Long Beach, CA vinh danh GS Trần Quang Hải" vào tháng 2 năm 2019. Hôm ấy Cuốn sách "Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt" là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông cũng được trình làng, đóng góp cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN.
 

Giáo sư Trần Quang Hải qua nhiều năm làm việc đã có đóng góp rất lớn trong việc sưu tầm nghiên cứu phát triển âm nhạc cổ truyền thế giới. Ông còn có công lớn hơn là đưa âm nhạc dân gian Việt Nam ra giới thiệu với toàn thế giới. Tôi xin thắp nén hương lòng gởi đến ông, người anh tinh thần, người nhạc sĩ, giáo sư tài hoa, rất đáng kính. Cầu nguyện ông được an lạc, thong dong ở cõi vĩnh hằng.
 

Trịnh Thanh Thủy

.

Một số thành tựu của GS Trần Quang Hải
 

30 Giải thưởng quốc tế:

-1967: Giải Vua Muỗng (King of Spoons), 1983: Giải thưởng của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros, 1986: Huy chương vàng của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Pháp, 1990: Giải thưởng ưu hạng của Đại hội liên hoan quốc tế phim “Le chant des harmoniques",1991: Giải thưởng Van Laurens của British Association of the Voice và Ferens Institute, Luân đôn, Anh quốc, 1995: Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva, 1996: Huy chương thủy tinh (Medal of Cristal) của Trung Tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học, Pháp, 1997: Giải thưởng của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros cho CD Voices of the World, Pháp., 1998: Huy chương công dân danh dự thành phố Limeil Brévannes, Pháp, 2002: Bắc đẩu bội tinh (Legion d’Honneur) của Pháp.....

 

 

Bùi Giáng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, mất ngày 7/10/ 1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Bùi Giáng là nhà nghiên cứu, khảo luận, dịch thuật và làm thơ. Ông thông thạo nhiều ngoại ngữ Anh, Pháp, Đức…, nghiên cứu những tư tưởng triết học của Jean Paul Sartre, Heidegger, Nietche, Albert Camus…, dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn trên thế giới Henry Miller, Simone de Beauvoire, St Exupéry, Sagan, khảo luận những tư tưởng triết học Đông Tây Kim Cổ… Ông xuất bản nhiều tác phẩm dịch thuật, nghiên cứu, phê bình, nổi tiếng các tập thơ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột…
Lũ con cháu chúng tôi sang thăm cô Nhã chú Từ ở thành phố Malmo, miền Nam Thụy Điển, vào khoảng giữa tháng 10 2024. Có chúng tôi về, cô chú vui lắm và thường cùng chúng tôi ra ngoài dạo phố, ngắm cảnh, ăn uống. Trong một buổi chiều đi uống cà phê, chúng tôi chụp được tấm hình cô chú nắm tay nhau đi dạo trong một công viên thanh bình, khi trời đất vào thu, dưới ánh nắng nghiêng nghiêng của buổi hoàng hôn cuối ngày. Chúng tôi đặt tên tấm hình đó là “Vẫn nắng vàng dù buổi chiều của đời”, là câu đầu tiên trong bài hát Vầng Trăng Xưa, chú Từ sáng tác trong trại giam Hàm Tân vào năm 1985.
Bước vào phòng triển lãm, ba bức tranh đầu tiên bên tay phải đập vào mắt người thưởng ngoạn là ba tác phẩm của họa sĩ Ann Phong: “I Told You, The Earth Is Warming Up”; “Looking Back, Looking Forward”; “If We Don’t Care For Nature, It Will Disappear.” Chọn ba tác phẩm này cho cuộc triển lãm, họa sĩ giải thích: “Các tác phẩm nghệ thuật của tôi phản ánh mối quan hệ giữa người với người; trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với trái đất nơi chúng ta đang sống. Thật đau lòng khi chứng kiến ​​thiên nhiên bị tàn phá bởi lòng tham và sự thiếu hiểu biết của con người. Có vẻ như khi chúng ta càng làm cho cuộc sống của mình trở nên tiện nghi, thì chúng ta càng tạo ra nhiều ô nhiễm hơn; càng làm cạn kiệt tài nguyên của trái đất một cách bất cẩn hơn…”
Nhóm Tuệ Đăng là gì có lẽ đến lúc này không còn xa lạ với cộng đồng người Việt hải ngoại và ngay cả trong nước nữa nhờ thời đại tin học và Youtube lan tỏa nhanh chóng. Nhóm lúc đầu là những thanh thiếu niên Phật tử yêu thích hát nhạc Phật và nhạc quê hương
Nếu "Lữ Hành" là cuộc hành trình thơ thới và bất tận của loài người và được ông sáng tác tại Sàigòn vào năm 1953 đầy hy vọng thì "Dạ Hành" là lúc con người đi trong đêm tối. Mà bóng tối ở đây không là một khái niệm về thời gian khi thiếu ánh mặt trời. Bóng tối là chông gai hiểm hóc của phận người và ca khúc cũng được viết tại Sàigòn nhưng mà là Sàigòn khói lửa của chiến chinh tham tàn năm 1970. Rồi Phạm Duy mới nói về cuộc đi bình thường là bài "Xuân Hành", sáng tác năm 1959, ở giữa hai bài hành kia. Hành trình bình thường và muôn thuở như câu hỏi đầy vẻ triết học là "người là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu ".... Ngươi từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là thần thánh, vừa là ma quỷ, biết thương yêu dai mà cũng biết hận thù dài…. Nhất là biết vui buồn giữa hai nhịp đập của con tim, ngay cả khi tim ngừng đập.
Buổi ra mắt sách "Mai Áo Dài" không tổ chức ở khu hội chợ Tết ở Phước Lộc Thọ. Không pháo, không múa lân, không thức ăn, nhưng vẫn thu hút hàng trăm người đến dự...
Thời gian là thực phẩm dài hạn cho người sống. Không thể từ chối. Hoặc chúng ta hưởng thụ nó. Hoặc chúng ta chịu đựng nó. Món ăn này đôi lúc sung sướng để nhai. Đôi lúc mệt mỏi, phiền hà để gặm. Đôi lúc nuốt xuống mắc nghẹn. Đôi lúc nuốt không kịp thở. Đã làm người thì nhất định phải biết sử dụng thời gian. Nếu ai không biết, thì thời gian sẽ sử dụng người đó.
Nghe danh nhà văn Khánh Trường đã lâu, biết ông là họa sĩ, điều đầu tiên tôi đi tìm là cái nhìn của người họa sĩ trong tập Truyện ngắn Khánh Trường I. Ông có những đoạn văn tả cảnh đầy màu sắc. “Bầu trời ửng sáng. Nắng rải xuống mặt đất màu vàng dịu. Nắng làm cho màu đỏ tấm pano quảng cáo trên mặt tường ngôi nhà bên kia đường hực lên rực rỡ, khiến thân thể trần truồng một trăm phần trăm của thiếu nữ nằm tênh hênh suốt chiều ngang tấm pano trở nên mời mọc quyến rũ hơn.”
Một tác phẩm Nghệ thuật Khái niệm gồm một quả chuối đơn giản, được dán bằng băng keo lên tường, đã được bán với giá 6,2 triệu đô-la tại một cuộc đấu giá ở New York vào thứ Tư, 20 tháng 11 năm 2024. Sự kiện này đã gây xôn xao không ít chẳng những trong thế giới nghệ thuật mà cả dư luận công chúng bên ngoài. Tác phẩm với nhan đề Comedian/ Diễn viên hài, của nghệ sĩ người Ý Maurizio Cattelan, đã trở thành một hiện tượng khi ra mắt vào năm 2019 tại Art Basel Miami Beach. Những người tham dự lễ hội nghệ thuật này cố gắng tìm hiểu xem liệu một quả chuối màu vàng đã chín có những đốm đen được dán trên bức tường trắng bằng băng keo bạc loại dán thùng gửi hàng là một trò đùa hay là lời bình luận đầy thách thức láo xược về các tiêu chuẩn đáng ngờ trong giới sưu tập nghệ thuật. Có lúc, một nghệ sĩ khác đã lấy quả chuối ra khỏi bức tường và điềm nhiên bóc vỏ ra ăn. Tác phẩm này thu hút quá nhiều sự chú ý đến mức ban tổ chức phải lấy nó xuống cất đi.
Ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ (Thanksgiving Day, ngày Thứ Năm trong tuần lễ thứ tư của tháng 11 hàng năm) được cho là khởi đầu vào năm 1621 khi những người di cư đầu tiên từ Anh Quốc đến Bắc Mỹ tạ ơn và ăn mừng với người Mỹ Da Đỏ bản xứ về một vụ mùa màng được thu hoạch khấm khá. Đây cũng là dịp để chúng ta nghĩ đến và đền đáp phần nào những ơn nghĩa mà mình đã nhận được trong cuộc đời này. Trong bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên viết khi ra tù cộng sản sau cuộc đổi đời vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, có câu thơ mà tôi rất thích: “Cảm ơn hoa đã vì ta nở.” Hoa nở rồi hoa tàn là chuyện rất bình thường theo luật tắc sinh trụ hoại diệt của vạn vật, như nhà Phật đã nói. Hoa có biết nó nở vì ai không? Làm sao chúng ta biết được hoa nở là vì chúng ta? Nhưng nếu không có hoa nở thì làm sao nhà thơ họ Tô kia có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp mỹ miều của thiên nhiên! Vì vậy mà khi nhìn đóa hoa nở nhà thơ Tô Thùy Yên đã nói lời cảm ơn vì cảm nhận rằng hoa đã vì ông nở.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.