Hôm nay,  

Văn Hóa và Cải Cách

16/05/202420:51:00(Xem: 2898)
van hoa

VĂN HÓA
được hiểu một cách đơn giản là NHỮNG GÌ CÒN LẠI. Còn lại ở đây không có nghĩa là còn lại trong phút chốc, trong một giai đoạn ngắn mà là còn lại với ý nghĩa là tồn tại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lich sử rất lâu dài cả trăm năm, cả ngàn năm mặc cho vật đổi sao dời. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử trong đó hơn một nghìn năm bị Tàu đô hộ và đồng hóa, người Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ của mình, đó là cái còn lại quí báu nhất, thiêng liêng nhất. Tiếng Việt ( bao gồm tiếng nói và chữ viết) là một thứ văn hóa đặc biệt của người Việt, nó đã có từ thuở người Việt xuất hiện trên hành tinh này và tồn tại cho đến bây giờ. Chữ Việt dùng để ghi tiếng Việt theo cách phát âm đã có từ thời Alexandre de Rhodes, theo mẫu tự La tinh, đã trở thành chữ Quốc Ngữ từ mấy trăm năm, tồn tại đến ngày hôm nay và sẽ tồn tại lâu dài.
    Những ai có âm mưu xóa bỏ văn hóa, tiêu diệt một nền văn hóa, cho dầu nhân danh là cải cách , là cách mạng hay gì gì đi nữa, cũng  chỉ là những kẻ điên rồ vì điều này không thể thực hiện được. Sau năm 1975, người Cộng sản dùng bạo lực cưỡng chiếm miền Nam, họ chủ trương tiêu diệt nền văn hóa rất nhân bản, kế thừa từ nền văn hóa lâu đời của tổ tiên cùng nền văn hóa tiên tiến, tự do của Tây phương. Họ nói nền văn hóa thời Việt Nam Cộng Hòa là văn hóa đồi trụy, phản động. Họ cho người đi đến từng nhà để tịch thu và tiêu hủy tất cả sách vở, báo chí, kể cả sách giáo khoa, sách y học, phim ảnh, băng đĩa và mọi sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa. Họ tịch thu các nhà sách, cửa hàng sách của tư nhân và bỏ tù chủ nhân các nhà sách đó. Họ lùng bắt và bỏ tù các văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, soạn giả…là những người đã làm ra những sản phẩm văn hóa, họ gọi những người làm văn hóa là “ biệt kích văn nghệ”. Những thứ không tịch thu được thì họ ra lệnh cấm phổ biến dưới mọi hình thức, thí dụ trong nhân dân, trong các trại tù thì họ cấm hát “ nhạc vàng ”. Người Cộng sản chủ trương tiêu diệt một cách toàn diện và triệt để nền văn hóa dân tộc bị họ xem như kẻ thù nhưng họ đã không làm được, họ đã thất bại. Sau gần năm mươi năm nền văn hóa nhân bản Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống âm thầm trong quần chúng và trổi dậy mạnh mẽ trong mấy năm gần đây: Các sách báo, truyện, tiểu thuyết, văn, thơ, nhạc, phim ảnh, tuồng cải lưởng, sản phẩm văn học, nghệ thuật,…đã được in lại và phổ biến sâu rộng trong nhân dân. Một dẫn chứng : Các nhạc phẩm gọi là nhạc vàng, trong đó có giai điệu bolero đã phục hồi sức sống, đã được cổ vũ, được hát lại và trình bày trong các sân khấu, trong các cuộc thi hát từ Nam chí Bắc, từ trong nước ra đến hải ngoại. Lý do là gì ? Vì nó đã trở thành một thứ văn hóa, được người dân chấp nhận, đã ăn sâu vào tim óc, tình cảm của người dân thì không ai có thể thay thế, hủy diệt được. Người ta có thể dùng bạo lực để tiêu diệt một chánh quyền nhưng không thể dùng bạo lực để tiêu diệt một nền văn hóa. Để thực hiện chủ trương tiêu diệt nền văn hóa dân tộc, nhân bản và tiên tiến thời VNCH, người Cộng sản chỉ có thể làm được một việc là từ chối không dùng  một số từ ngữ rất hay trước đây và thay vào bằng những cụm từ xa lạ, vô nghĩa hoặc rất dở như hoành tráng, bức xúc, diễu hành, hộ khẩu, hộ chiếu, nhà trắng, hội chữ thập đỏ, lính thủy đánh bộ, xưởng đẻ, vân vân…Sau năm 1975 khi đem hàng từ trên xe xuống thì họ nói “giải phóng” xe, làm sạch hay dọn dẹp một nơi nào đó thì họ nói là giải phóng mặt bằng.( Chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong bài viết khác ) Hiện nay trên các trang mạng và báo chí Việt Nam ta thấy xuất hiện thường xuyên cụm từ “ tự sướng” mà người dùng nó không biết đó là một từ rất khiếm nhã, được dùng khi đề cập đến chuyện thủ dâm.
    Ông Bùi Hiền có bằng Tiến Sĩ, là Phó giáo sư, từng là hiệu phó trường đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, phó Viện trưởng viện Nội dung & Phương pháp dạy học phổ thông, sao lại không biết  và không rút ra được bài học về âm mưu tiêu diệt nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa của Cộng sản? Sao  lại đưa ra chủ trương cải tiến chữ Việt một cách ngớ ngẩn, điên rồ, bất khả thi ? Có người nói ông muốn làm chuyện đội đá vá trời để lưu danh muôn thuở ? Cũng có người nói đàng sau đề nghị cải tiến tiếng Việt của ông là một âm mưu chánh trị đen tối nhầm định hướng dư luận, muốn dư luận chú ý đến vấn đề do ông đưa ra mà quên đi những vấn đề nhức nhối khác đang xảy ra tại Việt Nam, sâu xa hơn là thực hiện âm mưu Hán hóa người Việt của Tàu qua con đường Văn Hóa, ngôn ngữ vì ông là người đã được Trung quốc đào tạo từ năm 1954 tại đại học nhân dân Trung Quốc ! Đây là vấn đề lớn khác, không nằm trong nội dung bài viết này nên chúng tôi không đề cập đến ở đây.
    Đặc điểm của chữ quốc ngữ là viết ra theo cách phát âm và mỗi chữ viết ra đều có ý nghĩa khác nhau. Thí dụ chữ cái C phát âm là cờ, CH phát âm là chờ. Ghép các chữ cái lại với nhau thành ra một chữ có ý nghĩa và cách đọc hoàn toàn khác nhau. Thí dụ CA đánh vần là cờ- a- ca, viết là CA. Chữ CHA đánh vần là chờ-a- cha, đọc là CHA, là người sinh ra mình, khác với CA, là đồ dùng để múc nước. Cũng vậy, chữ CHẶT hoàn toàn khác với chữ CẶT. Vậy mà ông Bùi Hiền đưa ra sáng kiến thay thế chữ CH và chữ TR bằng chữ C, hậu quả là ngôn ngữ tiếng Việt mới sẽ không còn chữ CHẶT nữa mà chỉ cỏn chữ CẶT thôi. Cũng như không còn chữ CHUYỆN và TRUYỆN nữa mà chỉ còn một chữ CUYỆN thôi ! Chữ CẶT thì đọc được nhưng đến chữ CUYỆN của ông Bùi Hiền thì đọc ra làm sao và ý nghĩa của nó là gì đây ?! Không ai hiểu được. Thật ra, bản thân ông Bùi Hiền không phân biệt được cách đánh vần, cách phát âm giữa mẫu tự C và Q ( cái cuốc và tổ quốc ). Ông nói hai chữ đó phát âm giống nhau cho nên ông bỏ nó và thay bằng K, đưa tới lối viết tầm bậy tầm bạ, làm rối loạn ngôn ngữ Việt Nam.
    Tiếng nói và chữ viết không thể tách rời nhau, chính nó là văn hóa của một dân tộc, không chỉ để ghi chép mà nó còn nói lên tính chất đặc thù của một dân tộc qua lịch sử, tôn giáo, phong tục tập quán, nhân sinh quan, giá trị đạo đức, triết lý sống của một dân tộc đó, thể hiện dưới hình thức ca dao, tục ngữ, truyện, tuồng, bài hát từ ngàn xưa cho tới bây giờ cùng với những sản phẩm văn hóa khác. Văn bản, chữ viết còn là phương tiện ghi chép, lưu giữ quan điểm , đường lối, chính sách của nhà nước từng thời kỳ cũng như phương tiện giao lưu hàng ngày, hàng giờ giữa cá nhân với nhau thì không ai có tư cách, quyền hạn, phương tiện để sửa đổi theo ý riêng của mình để làm sai lệch ý nghĩa ban đầu của nó. Chữ viết trong văn bản không chỉ dùng để đọc và hiểu mà từ đó người ta có thể thưởng thức cái hay, nét đẹp rất độc đáo chỉ riêng ngôn ngữ Việt Nam mới có như lời ca, tiếng hát, câu hò, điệu lý, từng cách luyến lái trong thơ ca của từng loại khác nhau. Thật ra, nhờ các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng mà tiếng Việt cất lên thì êm ái nhẹ nhàng như là lời ru, nói mà giống như hát, không giống như tiếng Tàu, nói mà như cãi lộn vậy ! Trong khi đó thứ tiếng Việt cải cách của ông Bùi Hiền đưa ra thì hoàn toàn xa lạ với chữ quốc ngữ chúng ta, đọc lên thì nghe như đọc thần chú thì làm sao mà hát, hò cho được, nói chi là đi vào lòng người. Trừ những kẻ làm tay sai cho Tàu, những kẻ rắp tâm bán nước cho Tàu, riêng chúng ta, những người yêu nước và yêu mến tiếng Việt, muốn gìn giữ sự trong sáng cho tiếng Việt không thể cho phép và chấp nhận các cụm từ “Tiếng Việt” viết thành “ tiếq Việt”, “ giáo dục” thành ra “ zao zuk ”, “ trục trặc” trở thành “ cụk cặk”, “đi chợ” thành ra “di cợ”…
    Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành một tài sản thiêng liêng, quốc hồn quốc túy của dân tộc, được thế giới công nhận. Tác phẩm Truyện Kiều có giá trị về tư tưởng và văn chương, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Từ giới trí thức tới giới bình dân, già cũng như trẻ, là người Việt Nam không ai mà không biết  đến Truyện Kiều, không ai mà không thuộc năm ba câu Kiều, nó được đưa vào chương trình văn học sử bậc trung học thời VNCH. Người ta không những đọc Kiều mà còn ngâm, vịnh, lẫy Kiều. Phạm Quỳnh, một nhà văn hóa, một học giả lỗi lạc, đã từng phát biểu ( trong ngày lễ giỗ Nguyễn Du 8/12/1924 ) “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn ”. Câu hỏi đặt ra cho ông Bùi Hiền là có sửa văn bản truyện Kiều và lịch sử theo lối chữ cải cách của ông hay không ? Nếu có thì sửa bằng cách nào ? Nếu không thì thế hệ trẻ em sau này học tiếng Việt theo chữ của ông sẽ không đọc được truyện Kiều cũng như kho tàng văn hóa đồ sộ của ông cha ta để lại cũng như không đọc, không hiểu được lịch sử oai hùng của tổ tiên từ thời dựng nước. Như vậy, con đường vong bản, mất gốc đã nhìn thấy trước mặt. Lúc đó ông chính là thủ phạm cắt đứt con đường sinh mệnh của dân tộc nối liền quá khứ, hiện tại và tương lai vì một khi hiện tại và quá khứ bị cắt đứt thì tương lai chỉ còn là màu đen u tối. Ngoài Nguyễn Du, Phạm Quỳnh, thế kỷ này đã có một Phạm Duy, nhạc sĩ tài ba, với lòng yêu nước, yêu tiếng Việt nồng nàn, được sống trong môi trường tự do, ông đã sáng tác và để lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ với trên một ngàn bản nhạc mà đa số là nhạc hay, góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà. Nhạc Phạm Duy đi vào lòng người, với sức lan tỏa mạnh, kêu gọi, đánh thức được lòng yêu nước, yêu tiếng Việt của người nghe bằng những ca từ, giai điệu thiết tha, êm ái, nhẹ nhàng và sâu lắng. Có ai nghe nhạc Phạm Duy mà không thấy tâm hồn lâng lâng, bay bổng với niềm thương cảm, yêu nước dạt dào : “ Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời….Mẹ hiền ru những câu xa vời…Tiếng nước tôi…bốn nghìn năm ròng rả buồn vui…Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…’’
Rất may cho chúng ta và thế hệ con cháu sau này : Đến nay đã có những sự kiện, chỉ dấu cho thấy phương án cải cách tiếng Việt của ông Bùi Hiền đã bị phá sản : Cộng đồng mạng và nhân dân trong, ngoài nước kịch liệt lên án, phản đối, bộ Giáo Dục & Đào Tạo tuyên bố không đủ thẩm quyền, chánh phủ thì nói không có chủ trương cải tiến tiếng Việt trong lúc này.
 

Duy Nhân

Viết về nhạc Phạm Duy mà không nói tới tiếng hát của ca sĩ Thái Thanh là một thiếu sót không nhỏ. Như ta bước hụt một nấc thang. Tiếng hát của ca sĩ là chỉnh lại thăng bằng giữa nhạc và lời, khi niềm tĩnh lặng cần thiết một biến đổi. Những lặng yên nốt nhạc của nhạc sĩ trên mặt giấy, bỗng rảo bước đi, qua lời ca sĩ. Nhạc của Phạm Duy là nhiên liệu. Thái Thanh đốt lên thành ngọn. Ngọn rực rỡ bình minh. Ngọn hắt hiu của cây đèn lạp đêm khuya. Lửa ấy, lời ca ấy, không chỉ để ta nghe, thổ lộ những tâm tình, mà, còn để ta Nhìn, những bức minh họa. Cánh diều, con đê, bên ánh đèn mẹ ngồi khâu áo, đèo núi cao đoàn quân đi qua, bờ nước rộng con thuyền lên đường viễn xứ, chiều làng quê anh thương binh trở lại, và nắng tươi màu, áo ai phận mỏng, và thế gian giao mùa chinh chiến, và âm dương trở mình trong tiếng chày kinh. Cõi nhân ảnh mờ mờ, ảo ảo, hay tục lụy rõ soi ấy, một kiếp đời, ai cũng từng trải.
Tin nhạc sĩ Đan Thọ tác giả nhạc phẩm Chiều Tím qua đời ngày 4-9-2023, tại Texas, Hoa Kỳ, hưởng thọ 99 tuổi, gợi nhớ kỷ niệm ca nhạc thời niên thiếu của tôi ở quê nhà...
Nhạc sĩ Đan Thọ qua đời ngày 4 tháng Chín năm 2023, thành phố Houston, Texas, hưởng đại thọ 99 tuổi. An giấc nghìn thu ngày 18 tháng Chín, tại Nhà Quàn Vĩnh Cửu (Chapel of Eternal Peace at Forest Park), Houston, Texas. Với tuổi ta, nhạc sĩ được bách niên (100 tuổi) tuổi hạc đại thượng thọ trên cõi trần...
Vào giữa thập niên 1980s, phổ biến trong nước Triệu Đóa Hoa Hồng, tuy là bản nhạc trữ tình với mối tình dang dở nhưng lời Việt, nhạc Liên Xô nên tôi bị “dị ứng” nên chẳng để ý, dù sau nầy với ca sĩ hải ngoại…
Chúng ta không biết phải dịch chữ “immersive art” như thế nào. Khái niệm này chỉ mới xuất hiện vài năm nay, mặc dù đã xuất hiện, phần nào, trong các loại hình nghệ thuật khác, từ cả nhiều thế kỷ trước. Hình như triển lãm “immersive art” lần đầu tiên ở Los Angeles và Las Vegas là đầu năm 2022, với tranh Van Gogh. Phòng triển lảm sử dụng hình ảnh, âm thanh, không gian, sự chuyển động của màu sắc để làm cho bạn, người khán giả, trở thành một người đang tắm gội trong không gian nghệ thuật của họa sĩ Van Gogh (1853-1890). Tại sao chọn Van Gogh để triển lãm đầu tiên cũng chưa rõ, có lẽ vì tranh họa sĩ này sống động, dữ dội hơn nhiều họa sĩ khác, hấp dẫn hơn với dân Nam California. Có thể dịch chữ “immersive art” là hội họa “trải nghiệm hòa nhập” hay “trải nghiệm nhập vai” – bởi vì, khán giả tự thấy mình trở thành một phần của tác phầm đang chuyển động giữa thế giới màu sắc của họa sĩ.
“Đẹp là gì?” Người đầu tiên chính thức đặt ra câu hỏi căn bản này có lẽ là Socrates (469-399 TCN), và chính ông đã trả lời: “Đẹp là cái thích thú do tai nghe mắt thấy”. Plato (427—347 TCN) cho rằng “Vẻ đẹp là hình ảnh nhất quán và không thể thay đổi của những điều tốt nhất, tinh tế nhất.” Ông cũng là người đầu tiên đưa ra một nền tảng siêu hình về cái đẹp: không dừng lại ở cái đẹp hữu hình, mà đi tìm những giá trị siêu cao vô hình. Theo Immanuel Kant (1724-1804), vẻ đẹp là sự hài hòa giữa hình dáng và nội dung, là thứ khiến chúng ta cảm nhận sự tinh tế và thỏa mãn. Kant cho rằng cái đẹp gồm hai cảm nhận: cảm quan về sự cao cả và cảm quan về thẩm mỹ. Trong cả hai trường hợp, sự xúc động đều gây thích thú nhưng theo hai cách khác nhau: ý nghĩa cao cả khiến trái tim cảm động, còn mỹ thuật làm say mê trí óc của cặp mắt. Với tôn giáo thì vẻ đẹp còn liên quan đến niềm tin.
Ales Pushkin là một họa sĩ độc đáo. Anh là người đã yêu đất nước Belarus nồng nàn, tới mức nhiều lần đứng ra biểu tình đòi cho Belarus gia nhập NATO khi nhìn thấy Nga chiếm vùng Crimea của Ukraine, đã vẽ nhiều họa phẩm chống Tổng Thống Nga Vladimir Putin, bất kể có những cuộc biểu tình chỉ có đơn độc một mình anh ra phố đứng. Anh cũng là người yêu thương Ky tô giáo nồng nàn, đã thực hiện những tác phẩm trang trí nhà thờ, và sau khi nhiều lần vào tù, ra khám anh tâm sự với bạn hữu rằng đời anh chỉ sợ duy nhất có Chúa Trời. Bây giờ, Ales Pushkin (1965 - 2023) đã từ trần trong nhà tù Belarus. Bản tin hôm 12/7/2023 của AP ghi rằng, Ales Pushkin, một họa sĩ và là một nhà hoạt động chính trị người Belarus, người thường xuyên chỉ trích vị Tổng thống độc tài Alexander Lukashenko, đã chết trong tù hôm thứ Ba 11/7/2023 khi đang thọ án 5 năm.
Nhạc sĩ Trần Lê Việt, tác giả của bản nhạc tù quen thuộc, được mọi người nhắc đến, nghe lại vào các dịp kỷ niệm 30 tháng 4 hằng năm: Tháng Tư Đen (hay còn được nhớ nhất với cái tên Tháng Tư 29 ngày 31 đêm) trong dịp sinh nhật thứ 72 đã “được” ngồi xe lăn đi chầm chậm về phía cuối đường (đời). Chàng lãng tử với cây đàn nay không còn có thể “lãng tử” được nữa, dù cây đàn vẫn còn đó, vẫn còn là niềm vui của mỗi ngày, mỗi phút, mỗi giây chàng không phải đánh vật với bệnh tật...
Câu chuyện bắt đầu, một người kể: “Sở dĩ con kên kên sói đầu vì nó ăn mít. Nó đút đầu vào ruột trái mít đục khoét. Mủ mít dính chặt lông. Khi rút đầu ra, lông dính lại. Đầu trọc lóc.” Người thứ hai lên tiếng: “Nói vô lý. Kên kên ăn xác chết, ăn đồ hôi thúi. Mít có mùi thơm. Kên kên không ăn đồ thơm.” Người thứ nhất trả lời: “Nói có lý nhưng xét ra vô lý. Kên kên không ăn mít thường nhưng ăn Sầu riêng. Mít Sầu riêng hôi lắm.” “Nói vô lý. Sầu riêng thơm kiểu khác. Cả triệu người ăn. Cả triệu người ghiền. Điên hay sao mà ăn đồ hôi.” “Bà thấy thơm nhưng tui thấy hôi. Quyền tự do mà. Cả triệu người không ăn Sầu riêng. Cả triệu người thấy Sầu riêng hôi.” “Nói tào lao. Hoa thì thơm. Phân thì hôi. Ai có thể ngửi thấy hầm lù thơm?” “Có thể hôi thúi, nhưng ở đó lâu ngày, quen đi. Thúi cũng như thơm. Giống những người ở xung quanh Kinh Nước Đen.”
Trước sự hâm mộ cuồng nhiệt nhưng không mấy ngạc nhiên, bức chân dung cuối cùng được vẽ bởi họa sĩ Gustav Klimt đã được bán hôm nay với giá bán đấu giá kỷ lục ở châu Âu, 85.3 triệu bảng Anh (tính luôn cả lệ phí giao dịch) tại buổi bán đấu giá nghệ thuật của Sotheby's ở London chiều 27 tháng 6, tờ báo nghệ thuật The Art Newspaper đưa tin.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.