Hôm nay,  

Thế hệ chiêm bao

06/04/202212:34:00(Xem: 3279)

Điểm sách

ngvangia

 

(Nhân đọc Lặng Lẽ Phù Sa, thơ Nguyễn Văn Gia, NXB Hội Nhà Văn, 2015).

 

“Chén trà sương sớm bên thềm

Vừa nghe chim hót, vừa thèm chiêm bao” (Bùi Giáng).

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Gia cũng như nhiều người bạn bước chân vào Đại Học Huế trước khi chiến tranh kết thúc, một số có lẽ là thành viên của “thế hệ chiêm bao”.

 

Rồi thế nào hòa bình cũng phải đến

Như mặt trời thức dậy cuối đêm đen. (Mơ ngày hòa bình, Huế, 1972)

 

Nguyễn Văn Gia (NVG) làm thơ buổi tàn cuộc binh đao, đâu đó trước khi Hiệp Định Paris (1/1973) được ký kết. Anh hân hoan “chào chim sẻ, chim cu gáy của ngày còn bé/ Rủ nhau về sau năm tháng mù tăm”… “Và khi đó anh xin làm một thầy giáo trẻ/ Dạy dỗ bầy em dưới mái trường làng.” Thật hồn nhiên và rất đỗi lạc quan cách mạng. Cho đến khi“Quá nửa đời gió bụi với sương phai/ Khi ngoảnh lại đã hoàng hôn nắng quái/ Cái không thực làm sao tìm cho được/ Đôi tay gầy không thể hái trăng sao.” Nhà thơ “Bỏ rơi viên phấn nửa chừng/ Ta về nằm ngủ giữa rừng chiêm bao.” Lại chiêm bao, bây giờ anh mơ bóng tre xanh, quê nhà đã thành cố hương, mùa trăng cũ và tiếng chim…

 

Có những người bạn, nhà văn-nhà báo-nghệ sĩ nhiếp ảnh… phải lên tận bán đảo Sơn Trà mai phục may ra ghi hình chim và vọoc. Đất Thanh Khê của anh với Ngã Ba Huế, cửa ngõ phía Tây thành phố Đà Nẵng, khe nước xanh đổ ra Vũng Thùng nay không còn xanh nữa, chỉ may mắn còn lưu giữ cái chợ nửa tỉnh nửa quê, nhưng để nghe được tiếng chim gù nơi thảo lư có lẽ hơi chông chênh. Thì đành chiêm bao vậy.

 

Thế hệ mình bước chân vào đại học khi chiến tranh không còn lởn vởn nơi vùng ven, có lúc đã đổ ập vào thành phố. Rớt Tú Tài anh đi trung sĩ, trượt Đại Học anh vào Thủ Đức. Khung trời đại học Huế không cao vời vợi, mùa giêng hai mây mù bảng lảng vờn qua sát nhịp cầu ánh bạc, sà xuống cành phượng vĩ đến tận bãi cỏ chân cầu, hành lang Văn Khoa thì hẹp và sâu hun hút nên anh em sinh viên hầu như đều quen biết nhau, từ những nhan sắc một thời nay nhắc đến tên còn thấy xao xuyến, đến anh chàng sinh viên quần kaki vàng, đội mũ beret lệch thời thượng Che Guavara, trong câu chuyện, thỉnh thoảng chêm vào câu bùa chú “cuộc kháng chiến giữ nước và dựng nước vĩ đại của dân tộc ta” cóp nhặt đâu đó qua những tài liệu Văn-Sử-Địa miền Bắc lưu truyền vào. Chúng mình hồi ấy sống hài hòa, mỗi người có nỗi niềm riêng, điều quan trọng là tôn trọng giấc mơ người khác. Có lẽ, đời sống sinh viên bấy giờ sàn sàn như nhau, bổng lộc là hư vô, nên kèn cựa, cơ hội để mà làm chi? Khác với không khí đại học sau 1975 và xã hội bây giờ “Dối trá và sợ hãi/ Đã trở thành thói quen/ Cái tôi đã thành cái/ Hai mặt và phân thân” (Hai mặt).

 

Cho nên, thế hệ chiêm bao tồn tại qua chiến tranh từng trăn trở:

 

“Sống như thế nào là phải đạo/ Chẳng lẽ theo gió mà trở chiều.”

 

Một mai khi hòa bình đến, những năm tháng của tuổi trẻ đẹp nhất, chúng mình được lùa vào “Trại Súc Vật”(Animal Farm, tên một tiểu thuyết của George Orwell). Có anh ném giấc chiêm bao thời hoa mộng xuống sông Hương, sông Hàn… đi tìm giấc mơ khác bên kia đại dương, có anh quy khứ lai từ hay ra chợ bán văn ngày tháng qua, số ít chen được một chân vào giai cấp mới (chữ của Milovan Djilas), nghe lời phủ dụ của mấy con heo có vai vế trong Trại Súc Vật, riêng anh vẫn dạy học, thỉnh thoảng làm thơ “Nghĩ về đất nước”. Nhà thơ ơi, hãy khoác một vòng hoa và tránh ra cho người ta yêu nước!

“Lặng lẽ phù sa” những câu thơ tưởng yên ả như lớp trầm tích lắng đọng với thời gian, nhiều bài hư ảo như một thi kệ, vậy mà thỉnh thoảng thơ trỗi dậy phun trào như dung nham núi lửa muốn dịch chuyển cả đại cục.

 

Nhà thơ không ly hương, vậy mà thao thiết nhớ quê hương! Bên kia vườn địa đàng, con người có mặt với hoa lá, chim muông, núi đồi-dòng sông, những giấc mơ- chiêm bao.

 

Chẳng thể ngồi xuống chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng hoài những giấc mơ, sợ rồi lại hóa đá hay biến thành ảo ảnh…

 

Trên từng bước chân đi, biến giấc mơ để làm người Tự Do bởi Tự Do chưa bao giờ là món quà cho không.

 

– Tống Văn Thụy

(2/2022)

 

“Hiện Tượng Luận Phật Giáo” là tác phẩm đồ sộ cả về mặt hình thức lẫn nội dung được chia làm 2 cuốn, tổng cộng dày khoảng 1,500 trang. Đây là bộ sách nghiên cứu công phu về Du-già-hành Tông hay Duy Thức Tông, về Thành Duy Thức Luận, về Trung Quán, và nhiều đề tài Phật học và sử học Phật Giáo.
Nga hăm dọa sẽ tấn công Ukraine và cả thế giới đang chờ đợi với sự lo ngại. Tôi dửng dưng vì nghĩ chắc Nga cũng chỉ hăm he như Trung Quốc đòi đánh chiếm Đài Loan. Tên Đài Loan nghe quen hơn, còn Ukraine xa lạ quá. Cái tên chỉ làm tôi nhớ đến những bài học địa lý nói về vùng Tây Bá Lợi Á vào những năm học trung học đệ nhất cấp...
Anh Cao Huy Thuần gởi tôi tập Im Lặng, như lời chia tay… dặn để đọc mấy ngày Tết. Tôi nghĩ: chắc là Im Lặng thở dài… đây rồi! “Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe im lặng đời mình” (TCS)? Nhưng không. CHT không thở dài! Anh nói về “thiêng liêng” về “chia tay mà không biệt ly của cánh hoa rơi”…
“Chỉ là nỗi đam mê” (Passion Simple, 1991) là một trong số gần 30 tác phẩm của nhà văn nữ người Pháp Annie Ernaux, người vừa được Hàn Lâm Viện Thụy Điển trao tặng giải thưởng Nobel về Văn Chương 2022...
Trong tuần qua, nhà thơ Trịnh Y Thư vừa phát hành một sách mới nhan đề “Căn Phòng Riêng,” dịch từ nguyên bản tiếng Anh, Virginia Woolf, A Room of One’s Own, nxb Harcourt, 1991. Theo lời dịch giả Trịnh Y Thư, ấn bản 2023 của bản dịch để phổ biến ở hải ngoại là bản được sửa chữa và tăng bổ từ hai ấn bản đã in trong các năm 2009 và 2016 tại Việt Nam. Tập tiểu luận văn học này của Virginia Woolf (1882-1941) như dường trải qua gần 100 tuổi, vì sách ấn hành lần đầu là năm 1929, nhưng các vấn đề nêu lên đều rất mới, như vị trí người cầm bút nữ chỉ là bóng mờ trong ngôi làng của các nhà văn, hay yêu cầu của Woolf rằng người sáng tác phải lìa hẳn “cái tôi” khi cầm bút, hay người sáng tác văn học cần có “khối óc lưỡng tính [nam/nữ]” (nghĩa là lìa cá tính, hay lìa ngã thể?) -- nghĩa là tất cả những gì rất mực táo bạo đối với người sáng tác văn học Việt Nam.
Thu hút sự chú ý của công chúng về tính quyết định của thời điểm lịch sử hiện tại, Ahmed giới thiệu một lý thuyết phê bình về giải phóng xã hội dựa trên các phong trào cách mạng hậu Xô Viết đã nổi lên bên lề trật tự xã hội toàn cầu. Sự gia tăng của các phong trào loại trừ xã hội và chính trị ở nhiều nơi trên thế giới, khủng hoảng sinh thái đang diễn ra, phân biệt chủng tộc chống người Da đen và sự cụ thể hóa của sự tuyệt vọng do đại dịch COVID-19 mang lại đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với cuộc cách mạng, mà Ahmed lập luận, phải được bắt nguồn từ kinh nghiệm của những người bị áp bức nhất trong xã hội.
Nói chung "bật khóc" vì nhiều lý do …. Trước khi đề cập chi tiết hơn về bài thơ tôi mạn phép giới thiệu sơ về Lão Thi Sĩ Trần Công. Theo internet thì tác giả người Gò Công, từng là Trung Tá Cảnh sát Quốc Gia Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và hiện định cư tại Hoa Kỳ.
Suốt thời gian gần trăm năm qua, từ ngày xuất bản năm 1929, cuốn Căn phòng riêng của Virginia Woolf vẫn được xem là tập tiểu luận văn học có tầm ảnh hưởng rất lớn bởi tính cách đặt vấn đề của nó. Nó là cuốn sách được nhật báo Le Monde của Pháp quốc xếp hạng thứ 69 trong số 100 cuốn sách hay, giá trị, đáng đọc nhất thế kỷ XX. Kỳ thực, nó là cuốn sách đặt nền móng cho Nữ quyền luận trong hai lĩnh vực tư tưởng và phê bình văn học. Cuốn sách được hình thành dựa trên loạt bài thuyết trình Woolf đọc trước cử tọa toàn phái nữ tại hai trường cao đẳng dành riêng cho phụ nữ, Newham và Girton, thuộc trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh quốc, vào năm 1928, xoay quanh chủ đề “Phụ nữ và sáng tác văn học.”
Cuốn tiểu thuyết này mổ xẻ tình bạn mãnh liệt giữa hai cô gái mười ba tuổi, Agnès và Fabienne, ở vùng nông thôn nước Pháp thời hậu chiến. Họ tự tin mình “đủ tuổi để làm mọi thứ”, họ bão hòa sự nhàm chán bằng những kế hoạch càng ngày càng phức tạp. Fabienne bắt đầu đọc những câu chuyện kinh dị cho Agnès, và sau đó thiết kế ấn phẩm của họ dưới tên của Agnès. Agnès được tôn vinh là một đứa trẻ thần đồng và cuộc đời cô bắt đầu một quỹ đạo mới. Câu chuyện mở ra khi Agnès nhìn lại, bây giờ cô đã 27 tuổi và sống ở Pennsylvania, nghe tin Fabienne chết. Những hồi ức của cô ấy về tình bạn và sự phấn đấu của cô với sự nổi tiếng, được kể lại tự nhiên theo giọng điệu thanh tao, được nhấn mạnh bằng những mô tả sắc bén về niềm tin của tuổi vị thành niên.
Quyển thơ có 18 bài trong 50 bài được thầy Tuệ Sỹ viết bằng Hán tự trong thời gian bị bắt giam lần thứ nhất hơn 2 năm (1978-1981)...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.