Hôm nay,  

LM Hồ Ngọc Cẩn: Tuồng Bảy Mối Tội Đầu & Trương Minh Ký: Tuồng Joseph

25/11/202321:05:00(Xem: 18124)

 

LM Hồ Ngọc Cẩn: Tuồng Bảy Mối Tội Đầu

Trương Minh Ký: Tuồng Joseph

 

Phan Tấn Hải

 

 
blankTừ phải: GS Trần Huy Bích, GS Nguyễn Văn Sâm, và nhà văn Trần Ngọc Ánh (phu nhân của GS Sâm).
    

Giáo sư Nguyễn Văn Sâm vừa ấn hành một tác phẩm có nhan đề sách rất dài: “Tuồng Bảy Mối Tội Đầu của LM Hồ Ngọc Cẩn và Tuồng Joseph – 1887 của Trương Minh Ký.” Cuốn sách này là tuyển tập 2 vở tuồng được viết trong tinh thần Công Giáo của vùng đất Nam Bộ của thời kỳ cuối thế ký thứ 19 và đầu thế kỷ 20. Đây là ấn bản 2023 do GS Nguyễn  Văn Sâm giới thiệu và chú giải.

 

Chúng ta nói rằng tuyển tập tác phẩm trên là viết trong tinh thần đạo Công Giáo, thực ra vẫn có dị biệt giữa 2 vở tuồng trên. Mỗi vở tuồng vẫn có một giá trị riêng biệt. Một phần, mục đích của Linh mục Hồ Ngọc Cẩn khi soạn ra vở Tuồng Bảy Mối Tội Đầu là khác với ý định văn học của Trương Minh Ký khi soạn vở Tuồng Joseph. Ngay nơi dòng đầu tiên trong phần Tiểu Dẫn của Tuồng Bảy Mối Tội Đầu, LM Hồ Ngọc Cẩn đã nêu ngay ra thẩm quyền siêu nhiên: “Hẳn như Lời Kinh Thánh dạy, vì ma quỉ ghen ghét, nên sự chết đã vào thế gian: nó đã hỏng mất thiên đàng, nó lại muốn cho loài người đồng sa hỏa ngục.” (trang 51) Do vậy, khi nói là tuồng, nghĩa là một sản phẩm nghệ thuật sân khấu để giải trí, những dòng chữ viết của LM Hồ Ngọc Cẩn có ý tuyên thuyết giáo lý Cơ Đốc hẳn hoi.

 

Phía nhà văn Trương Minh Ký lại khác. Vở Tuồng Joseph của họ Trương chỉ là “lấy sự tích đạo” chứ không phải “tuồng đạo.” Giáo sư Nguyễn Văn Sâm giải thích nơi trang 6 về Trương Minh Ký khi viết Tuồng Joseph: “Lấy tích từ sách truyện nầy kia hay từ đạo Phật, đạo Chúa, đạo Nho là chuyện bình thường. Cũng như ta nói Hàn Mặc Tử là tác giả chịu ảnh hưởng từ đạo Thiên Chúa chứ không nói đó là nhà văn Công Giáo…”

  blank              GS Nguyễn Văn Sâm ký tên lên sách.

Chúng ta có thể thấy văn phong dị biệt giữa Tuồng Bảy Mối Tội Đầu của LM Hồ Ngọc Cẩn và Tuồng Joseph – 1887 của Trương Minh Ký. Khởi đầu Tuồng Joseph của Trương Minh Ký là những lời nói thơ mộng của Joseph, nơi trang 8:

 

Phong điền võ thuận

Quốc thới dân an.

Trong vẻo nước sông vàng,

Lặng trang trời biển đỏ.

Joseph là tên mỗ,

Quê quán ở Chanaan.

Như tôi: Thung dung rèn tới bực tài năng,

Kềm thúc luyện theo đàng nhơn đức,

Thỉ chung một mực

Trung hiếu hai đàng.

Hà! Nghĩ cha già mừng được còn an.

Nhớ mẹ yếu thảm thương sớm mất.

Chừ cũng đà khuya rồi phải vào ma nghỉ…(hết trích)

 

Đọc những dòng thơ tự sự đầu vở tuồng, chúng ta không thấy chất đạo Công Giáo, trong khi nếu nói về hình ảnh thì duy có chữ “Chanaan” là một vùng đất Trung Đông, có tên trong Kinh Thánh. Nhưng nghĩ kỹ, chỉ qua những lời nói mở đầu này, có thể suy đoán là tác giả viết trong bầu không khí Nho giáo, khi nghĩ tới nhờ ơn đức của vua nên mới có “phong điền võ thuận, quốc thới dân an.”

 blank                        Bìa sách.

Trong khi đó, ngay trang đầu của Tuổng Bảy Mối Tội Đầu, linh mục Hồ Ngọc Cẩn đưa ngay văn phong nhà thờ Ky tô vào từ dòng đầu, với nhân vật nói mở đầu cho tuồng là Thiên Thần:

 

Bạch: Trung thần hưởng phước tại thiên đình

Ngụy quỉ lưu giam chốn địa hình

Lương thiện hà giao nhơn bất nghĩa,

Thanh liêm khỉ mộ chúng khuy tình.

Nói: Hỉ hoan nơi cõi thọ

Nhàn lạc chống quang vinh.

Hằng chầu chực Chúa chí linh.

Cùng giữ gìn người dương thế

Tính linh thiêng phụng quyền Thượng đế…(hết trích)

 

Nghĩa là, ngay dòng đầu, LM Hồ Ngọc Cẩn nói tới thiên đình (cõi trời), nói tới địa ngục (có quỉ, có lưu giam chốn địa hình), lại nói rằng “chầu chực Chúa chí linh” và rồi “phụng quyền Thượng đế.” Đó là những khái niệm của thiện thắng ác, của những người Ky tô hữu phụng quyền Thượng đế. Như thế, hoàn toàn mất hẳn tính nhà Nho trong những lời nói đầu vào tuồng, mà chỉ là văn phong Kinh Thánh Cơ Đốc.

 

Tuyển tập được Giáo sư Nguyễn Văn Sâm phát hành từ tuần qua trong vòng các thân hữu, và trong giới học giả thân quen. Trong đó, Giáo sư Trần Huy Bích đã theo sát để hỗ trợ, vì GS Nguyễn Văn Sâm vừa rời bệnh viện sau một kỳ nằm bệnh viện nhiều tuần lễ.

 

Hai vở tuồng trong tuyển tập có nhiều giá trị về văn học sử đối với những người nghiên cứu về thời kỳ đầu của văn học Công Giáo Nam Bộ, và đồng thời cũng có giá trị đặc biệt với những người nghiên cứu về tiến trình sơ kỳ của công cuộc hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam.

 

Các độc giả quan tâm, có thể liên lạc với tác giả qua:

GS Nguyễn Văn Sâm – Email: [email protected]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Đọc Vũ Hoàng Thư có thể bắt đầu từ một điểm rất nhỏ: một ảnh tượng vừa hiện ra trước khi nó trở thành ý nghĩa. Ở đó, ĐÂY LÀ X không phải là công thức lý thuyết đặt lên văn chương, mà là cú pháp căn bản của nhận thức khi đi vào chữ. ĐÂY là một xúc chạm: cỏ, ve, sương, hoa, tiếng kèn, con thuyền, ánh trăng. LÀ là trường hiện ra của xúc chạm ấy, nơi cái thấy vừa đủ ổn định để được nhận ra. X là con chữ được đặt xuống
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
“Everything I Learned, I Learned in a Chinese Restaurant” (Mọi điều tôi học được đều từ một nhà hàng Trung Hoa) là một cuốn hồi ký dí dỏm, mang tính chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn gốc Hoa Curtis Chin, kể về quá trình trưởng thành của một người Mỹ gốc Hoa tại Detroit vào những năm 1980s. Nhà hàng của gia đình Chin – Chung’s Cantonese Cuisine – từng là điểm gặp gỡ của những cư dân đang phải vật lộn với những căng thẳng về sắc tộc, khó khăn kinh tế, cũng là nơi gắn liền với vụ án tội ác thù ghét đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử: vụ sát hại Vincent Chin. Curtis Chin là đồng sáng lập của tổ chức Asian American Writers’ Workshop. Bộ phim mới nhất của ông thực hiện cho đài PBS, mang tựa đề “Warren King: King of Cardboard” ra mắt trong tháng 5, là Tháng Di sản người Mỹ gốc Á và Thái Bình Dương (AAPI).
Có những cuốn sách không chỉ kể một câu chuyện, mà tự nó đã là một chuyện khác: chuyện về giọng nói, về cách kể, về thứ quyền lực ẩn trong từng lớp chữ. Taiwan Travelogue của Yang Shuang-zi (Dương Song Tử) là một cuốn như thế — đã đoạt National Book Award 2024 cho Văn chương Dịch thuật tại Hoa Kỳ, và mới đây lại nhận thêm giải International Booker 2026, trở thành tiểu thuyết đầu tiên dịch từ tiếng Hoa phổ thông được trao giải thưởng này.
Có những cuốn tiểu thuyết chỉ kể một câu chuyện. Có những cuốn khác không kể gì nhiều. Nó chỉ mở một cánh cửa, để một câu hỏi bước vào. Một câu hỏi nguy hiểm: điều gì sẽ xảy ra nếu một người thật sự hiền lành đi giữa một thế giới đã hư hỏng? Kẻ Khờ (The Idiot) của Fyodor Dostoevsky là một câu hỏi như thế. Không hẳn là một cuốn truyện. Đúng hơn, nó là một cuộc thử nghiệm đặt trên linh hồn con người. Một linh hồn trong suốt được đem thả vào giữa một căn phòng đầy khói, đầy gương, đầy những tiếng cười kín đáo và những vết thương không chịu lành.
Bạn cần một tác phẩm về Phật học, và về Thiền tập được giải thích rất khoa học dưới mắt của một bác sĩ, và có thể thích nghi cho mọi thế hệ già và trẻ thực hành ngay khi đọc xong? Hẳn là nhiều người có thể dễ dàng đoán ra tác giả đó là ai: tác giả Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, cũng là một nhà văn, nhà thơ, có nhiều tác phẩm về Phật học nổi tiếng, và bản thân họ Đỗ cũng được nhiều cơ sở văn hóa mời tới nói chuyện và hướng dẫn về Thiền tập.
Theo nhà xuất bản, Kaho là lần đầu tiên một nhân vật nữ đơn độc giữ vai trò trung tâm trong một tiểu thuyết dài của Murakami – chi tiết đặc biệt đáng chú ý nếu đặt trong bối cảnh những phê bình nữ quyền lâu nay dành cho thế giới sáng tác của ông, cũng như các phát biểu trước đây của chính Murakami về cách ông xây dựng nhân vật nữ.
Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.
“Năm ấy, cha tôi mười chín tuổi. Ông có ba người em gái nhỏ hơn — đứa lớn nhất mười hai tuổi, đứa bé nhất còn đang nằm trong nôi — và một em trai. Ông thương cô em út nhất, đứa sinh vào đầu tháng Giêng năm ấy. Chính ông là người đặt tên cho nó là Eunyoung, sau khi ngăn ông nội đừng gọi nó là Soonyoung — bởi những người anh chị của nó đều mang những cái tên như Hakyoung, Sookyoung, Jinyoung, và Heeyoung. “Con bé vốn đã là một con chiên non rồi,” ông nói, “sao còn mạo hiểm khiến nó hiền hơn nữa bằng một cái tên như Soon chứ?”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.