Hôm nay,  

GS Nguyễn Văn Sâm ấn hành: Tuổng Kim Long Xích Phượng

23/11/202416:18:00(Xem: 16567)

GS Nguyễn Văn Sâm ấn hành:
Tuổng Kim Long Xích Phượng
 

Phan Tấn Hải
 

Bạn đang cư trú ở một nơi rất xa quê nhà. Thế rồi, một hôm, bạn mở TV xem và bất chợt nhìn thấy một vở kịch Nhật Bản thể loại Noh, và bạn bùi ngùi nhớ về quê nhà, nơi thời thơ ấu bạn đã từng xem một tuồng hát bội, một thể loại kịch cổ điển thường hát ở các ngôi đình Miền Nam Việt Nam. Khi vở Kịch Noh vừa chấm dứt, cho dù bạn chưa hiểu tận tường tuồng Nhật Bản nói gì, nước mắt đã đầm đìa trên mắt của bạn, đó là nước mắt khi nhớ về thời tuổi nhỏ chạy chơi trong sân đình, nơi các nghệ sĩ tuồng ngồi vẽ mặt của những buổi chiều trước giờ kéo màn.
 

Tuồng hát bội, một thể loại nghệ thuật chỉ còn trong trí nhớ của những người từ tuổi trung niên trở lên, những người còn nhớ âm vang và hình ảnh khi người nghệ sĩ tuồng dậm chân và đưa tay lên hát, trong khi tiếng trống gõ để đệm theo.
 

Chúng ta không hiểu chính xác, vì ký ức là của một thời tuổi nhỏ, nhưng chúng ta vẫn nhớ, hệt như chàng trai nhớ tới một sợi tóc mềm mại của một cô bạn thời đi học. Tuồng hát bội, nghe rất âm vang xưa cổ. Nhưng thực sự không quá xưa cổ. Tự điển Bách Khoa mở ghi rằng, theo nhiều học giả, tuồng xuất phát từ ca vũ dân tộc Việt Nam, song trong quá trình phát triển, tuồng đã tiếp nhận nhiều trình thức biểu diễn và hóa trang của Hí Kịch. Lối hát tuồng du nhập vào Việt Nam vào thời điểm nào thì chưa được xác minh.
 

Lịch sử ghi rằng người đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật tuồng Việt Nam là Đào Duy Từ (1572-1634). Năm 1627, Đào Duy Từ là người đầu tiên đã mang về cho chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nghệ thuật tuồng.
 blankGS Nguyễn Văn Sâm và phu nhận, nhà văn Trần Ngọc Ánh, nơi đậu xe của Viện Việt Học hôm Thứ Bảy 23/11/2024.

Hôm Thứ Bảy 23/11/2024, Giáo sư Nguyễn Văn Sâm và phu nhân là nhà văn Trần Ngọc Ánh đã lái xe từ Victorville tới Viện Việt Học, Westminster, để cho thấy một niềm vui của nhà nghiên cứu Hán Nôm này: lô sách ấn hành đầu tiên với nhan đề sách là "Gia tài văn hóa Việt Nam: Tuồng hát bội Kim Long Xích Phượng Toàn Tập" vừa rời nhà in.
 

Sách cũng ghi rõ:
. Nguyễn Văn Sâm phiên âm và sơ chú
. Nguyễn Hiền Tâm hiệu đính
. Nguyễn Anh Tú biên tập.
. NBX Viện Việt Học 2025.

Các chi tiết này cho thấy sự làm việc cần trọng: sách dày 200 trang, cộng thêm bìa có thể gọi là 204 trang. Nhưng đây là một tâm huyết, cẩn trọng, dò và đối chiếu từng chữ, từng nghĩa.
 

Nơi trang 3 và 4 của tác phẩm, GS Nguyễn Văn Sâm giải thích, trích:
 

"Thế kỷ 19 có một sự cộng tác đặc biệt của một số người Minh Hương ở Chợ Lớn và các nhà khắc ván ở vùng Phật Trấn (Quảng Đông, Trung Quốc) để thực hiện khắc ván, in và phát hành sâu rộng những tác phẩm Việt Nam viết bằng chữ Nôm. Số tác phẩm này nhiều và quan trọng vì thời gian hoạt động của nhà khắc ván, nhà phát hành nói trên gần như kéo dài cả trăm năm. Nếu làm một việc kiểm kê những tác phẩm ở trong trường hợp nầy còn sót lại cho đến ngày nay ta thật ngạc nhiên mà thấy rằng đó là một gia tài văn hóa quý báu của người Việt. Quý giá nhưng từ lâu chìm trong lãng quên vì ta không biết hay chưa biết hết.

Lý do cũng dễ hiểu thôi, vì thời gian binh lửa kéo dài, vì người cựu học trong Nam không nhiều, vì các tờ báo Nam Phong, Đông Dương, Tri Tân được thiết lập ở Bắc, vì các hội Trí Tri, Nghiên Cứu Đông Dương, Đô Thành Hiếu Cổ đều có trụ sở ở miền ngoài nên các cơ quan nầy không có phương tiện để thấy để biết mà giới thiệu những tác phẩm quý giá đó.



Lý do gì đi nữa thì các tác phẩm đó gần như mai một và chúng ta biết thật ít về chúng. Nhiều trường hợp nghe tên tác phẩm mà rất ít trường hợp thấy chính tác phẩm. Tôi gần đây có cơ may thấy được một vài quyển do nguồn tài liệu ở Pháp và được Giáo Sư Nguyễn Khắc Kham khi còn mạnh khỏe cho sao lại nhiều quyển trong tủ sách riêng của Thầy nên thấy mình có bổn phận giới thiệu với học giới những gì tôi có thể làm được.

Thường thì tác phẩm cần được phiên âm cẩn thận trước khi suy nghĩ về những vấn đề đặt ra trong đó. Sự phiên âm rất cần thiết vì sẽ có dịp đem tác phẩm tới mắt đa số quần chúng Việt Nam hay học giới nghiên cứu Việt Nam mà có thể đọc được quốc ngữ. Trong khi phiên âm, phiên giả học được nhiều điều bổ ích liên quan đến chữ nôm và tiếng Việt. Phiên âm cũng là cách đọc thật kỹ tác phẩm, cân nhắc từng chữ dùng của người xưa, gặp chữ lạ lại tự hỏi đọc thế nào cho hợp lý, để tìm tòi về nghĩa. Do đó sự phiên âm của chúng tôi cũng là sự học hỏi cần thiết về những vấn đề liên quan đến chữ Nôm, đến quốc văn. Sự đọc sai, có thể có, tuy rằng chúng tôi đã cố gắng đến tối đa. Sai vì sức học chưa tới, nghiên cứu chưa đủ, nhưng nghĩ rằng ai cũng có thể sai, tôi mạnh dạn tiến vào công cuộc nhàm chán này. Sự đọc tạo nên tranh biện với những nhà Nôm học hay ngữ học càng có nhiều khả năng hơn. Chuyện đó phải xảy ra thôi, nhưng tôi đã cân nhắc thật kỹ mỗi khi đưa ra chữ mình phiên âm, không bao giờ để sự cẩu thả, qua mắt người hay sự cầu kỳ thúc đẩy. Mong phần lớn chữ mình phiên âm được công nhận và những tranh biện chỉ thực sự xảy ra vì chân lý cần được làm sáng tỏ đối với những chữ quá mắc mà thôi.

Tuồng Kim Long Xích Phượng được đọc trong tinh thần đó.

Đây là một tuồng như kiểu Tuồng San Hậu, nghĩa là không dựa trên truyện Tàu mà do người đặt mô phỏng chỗ nầy một chút, chỗ kia một chút để viết nên. Tuồng gồm ba hồi, trong mỗi hồi có nhiều lớp, không nhứt thiết phải là một cảnh. Bản Nôm không chia hồi cảnh, tôi tạm chia để người đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện."
  blank

 
Sách này cũng cho bạn nhớ lại một thể văn rất cổ, rất là tuồng Tàu và nơi đây là rất mực văn chương Nam Bộ, trích dụ, trích vài dòng nơi Mục lục các chương:
 

"Lớp 4: Nhận búa thần, Châu Võ Sĩ chờ thời giúp nước.
Lớp 5: Thứ Hậu mộng thấy hoài thai Kim Long, Xích Phượng.
Lớp 6: Ôm đố kỵ, Chánh Cung bày mưu độc.
Lớp 7: Chốn Bàn Khê, Bửu Lâm Sanh cùng Thị Lang kết bạn."
 

Bạn sẽ nhớ rằng, cứ mỗi lớp là màn từ mái đình buông xuống để các nghệ sĩ tuồng chuẩn bị cho lớp kế tiếp.
 

Đây là một cuốn sách đang gìn vàng giữ ngọc cho một nếp văn học Nam Bộ xưa cổ, những hình ảnh đang lùi dần trong ký ức của thời kỳ đương đại tưng bừng nhạc Rap, nhạc Jazz... Chắc chắn rằng, khi bạn khép trang sách lại, những hình ảnh của những ngôi đình xưa cổ đã từng xúng xính những xiêm áo nghệ sĩ tuồng sẽ hiện ra trước mắt bạn, nơi đó từng âm thanh vang lên, từng chữ chép xuống đều là các giá trị của những tấm gương nhân vật tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa.
 

Cần liên lạc với tác giả, có thể liên lạc GS Nguyễn Văn Sâm: [email protected]




Đọc Vũ Hoàng Thư có thể bắt đầu từ một điểm rất nhỏ: một ảnh tượng vừa hiện ra trước khi nó trở thành ý nghĩa. Ở đó, ĐÂY LÀ X không phải là công thức lý thuyết đặt lên văn chương, mà là cú pháp căn bản của nhận thức khi đi vào chữ. ĐÂY là một xúc chạm: cỏ, ve, sương, hoa, tiếng kèn, con thuyền, ánh trăng. LÀ là trường hiện ra của xúc chạm ấy, nơi cái thấy vừa đủ ổn định để được nhận ra. X là con chữ được đặt xuống
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
“Everything I Learned, I Learned in a Chinese Restaurant” (Mọi điều tôi học được đều từ một nhà hàng Trung Hoa) là một cuốn hồi ký dí dỏm, mang tính chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn gốc Hoa Curtis Chin, kể về quá trình trưởng thành của một người Mỹ gốc Hoa tại Detroit vào những năm 1980s. Nhà hàng của gia đình Chin – Chung’s Cantonese Cuisine – từng là điểm gặp gỡ của những cư dân đang phải vật lộn với những căng thẳng về sắc tộc, khó khăn kinh tế, cũng là nơi gắn liền với vụ án tội ác thù ghét đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử: vụ sát hại Vincent Chin. Curtis Chin là đồng sáng lập của tổ chức Asian American Writers’ Workshop. Bộ phim mới nhất của ông thực hiện cho đài PBS, mang tựa đề “Warren King: King of Cardboard” ra mắt trong tháng 5, là Tháng Di sản người Mỹ gốc Á và Thái Bình Dương (AAPI).
Có những cuốn sách không chỉ kể một câu chuyện, mà tự nó đã là một chuyện khác: chuyện về giọng nói, về cách kể, về thứ quyền lực ẩn trong từng lớp chữ. Taiwan Travelogue của Yang Shuang-zi (Dương Song Tử) là một cuốn như thế — đã đoạt National Book Award 2024 cho Văn chương Dịch thuật tại Hoa Kỳ, và mới đây lại nhận thêm giải International Booker 2026, trở thành tiểu thuyết đầu tiên dịch từ tiếng Hoa phổ thông được trao giải thưởng này.
Có những cuốn tiểu thuyết chỉ kể một câu chuyện. Có những cuốn khác không kể gì nhiều. Nó chỉ mở một cánh cửa, để một câu hỏi bước vào. Một câu hỏi nguy hiểm: điều gì sẽ xảy ra nếu một người thật sự hiền lành đi giữa một thế giới đã hư hỏng? Kẻ Khờ (The Idiot) của Fyodor Dostoevsky là một câu hỏi như thế. Không hẳn là một cuốn truyện. Đúng hơn, nó là một cuộc thử nghiệm đặt trên linh hồn con người. Một linh hồn trong suốt được đem thả vào giữa một căn phòng đầy khói, đầy gương, đầy những tiếng cười kín đáo và những vết thương không chịu lành.
Bạn cần một tác phẩm về Phật học, và về Thiền tập được giải thích rất khoa học dưới mắt của một bác sĩ, và có thể thích nghi cho mọi thế hệ già và trẻ thực hành ngay khi đọc xong? Hẳn là nhiều người có thể dễ dàng đoán ra tác giả đó là ai: tác giả Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, cũng là một nhà văn, nhà thơ, có nhiều tác phẩm về Phật học nổi tiếng, và bản thân họ Đỗ cũng được nhiều cơ sở văn hóa mời tới nói chuyện và hướng dẫn về Thiền tập.
Theo nhà xuất bản, Kaho là lần đầu tiên một nhân vật nữ đơn độc giữ vai trò trung tâm trong một tiểu thuyết dài của Murakami – chi tiết đặc biệt đáng chú ý nếu đặt trong bối cảnh những phê bình nữ quyền lâu nay dành cho thế giới sáng tác của ông, cũng như các phát biểu trước đây của chính Murakami về cách ông xây dựng nhân vật nữ.
Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.
“Năm ấy, cha tôi mười chín tuổi. Ông có ba người em gái nhỏ hơn — đứa lớn nhất mười hai tuổi, đứa bé nhất còn đang nằm trong nôi — và một em trai. Ông thương cô em út nhất, đứa sinh vào đầu tháng Giêng năm ấy. Chính ông là người đặt tên cho nó là Eunyoung, sau khi ngăn ông nội đừng gọi nó là Soonyoung — bởi những người anh chị của nó đều mang những cái tên như Hakyoung, Sookyoung, Jinyoung, và Heeyoung. “Con bé vốn đã là một con chiên non rồi,” ông nói, “sao còn mạo hiểm khiến nó hiền hơn nữa bằng một cái tên như Soon chứ?”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.