Hôm nay,  

Kẻ Khờ

08/05/202600:00:00(Xem: 603)

 

ke kho

 

Có những cuốn tiểu thuyết chỉ kể một câu chuyện.

Có những cuốn khác không kể gì nhiều. Nó chỉ mở một cánh cửa, để một câu hỏi bước vào. Một câu hỏi nguy hiểm: điều gì sẽ xảy ra nếu một người thật sự hiền lành đi giữa một thế giới đã hư hỏng?

Kẻ Khờ (The Idiot) của Fyodor Dostoevsky là một câu hỏi như thế.

Không hẳn là một cuốn truyện. Đúng hơn, nó là một cuộc thử nghiệm đặt trên linh hồn con người. Một linh hồn trong suốt được đem thả vào giữa một căn phòng đầy khói, đầy gương, đầy những tiếng cười kín đáo và những vết thương không chịu lành.

Ở giữa căn phòng ấy là Hoàng thân Myshkin.

Myshkin trở về nước Nga sau nhiều năm bệnh tật và cách biệt. Ông trở về không mang theo một tham vọng nào, không một kiêu hãnh nào, không một mưu tính nào được giấu dưới lớp áo lịch sự của xã hội. Ông chỉ có lòng thương. Một thứ lòng thương lặng lẽ, không trang điểm, không tự khoe mình, gần như lạc loài giữa một thế giới quen sống bằng dục vọng, quyền lợi, và những cái tôi bị đánh bóng quá lâu.

Bi kịch bắt đầu từ đó.

Vì lòng tốt của Myshkin không làm người ta yên lòng. Nó làm người ta khó chịu.

Người ta gọi ông là kẻ khờ. Không phải vì ông thiếu trí khôn. Trái lại, có lẽ vì ông nhìn thấy quá rõ những điều người khác cố tình che giấu. Ông không biết nói dối cho lịch sự. Không biết tàn nhẫn cho đúng phép. Không biết lạnh lùng để được xem là khôn ngoan. Ông lắng nghe khi người khác nói dối. Ông tha thứ khi người khác mưu toan. Ông nhận ra đau khổ ở nơi người đời chỉ nhìn thấy một sự yếu đuối đáng khinh.

Trong một xã hội sống bằng mặt nạ, người không mang mặt nạ trở thành một điều xúc phạm.

Cuốn truyện đi quanh hai người đàn bà như đi quanh hai ngọn lửa. Nastasya Filippovna là ngọn lửa đã bị gió đen thổi qua: kiêu hãnh, bị thương tổn, đẹp một vẻ đẹp gần như tự hủy. Nàng không tin tình yêu, vì đời nàng đã bị dạy quá sớm rằng tình yêu cũng có thể là một hình thức mua bán. Nàng đốt mình trước khi để người khác đốt mình.

Aglaya Epanchin lặng hơn, nhưng không kém phần nguy hiểm. Nàng mang trong mình thứ kiêu hãnh của tuổi trẻ, thứ mơ mộng muốn tìm một điều tuyệt đối giữa đời sống tầm thường. Với nàng, Myshkin không chỉ là một người đàn ông. Ông là một dấu hiệu. Một ánh sáng. Một điều nàng muốn tin, nhưng cũng không đủ khiêm nhường để đón nhận.

Đứng giữa hai người đàn bà ấy là Myshkin. Không phải như một anh hùng để chọn lựa và chiến thắng. Ông đứng đó như một người cảm thấy quá nhiều, hiểu quá sâu, và vì thế không thể bước về phía nào mà không làm vỡ một điều gì trong chính mình.

Đó là chỗ tàn nhẫn của Dostoevsky.

Ông không viết một câu chuyện trong đó lòng tốt cứu được thế giới. Ông viết một câu chuyện trong đó lòng tốt bị thế giới nhìn ngắm, thử thách, nghi ngờ, rồi nghiền nát. Không bằng một nhát dao. Bằng từng cái nhìn. Từng lời nói. Từng sự hiểu lầm. Từng bàn tay đưa ra quá muộn.

Kẻ Khờ ám ảnh vì nó không chịu an ủi người đọc. Nó không cho đức hạnh một phần thưởng. Nó cũng không bắt sự tàn nhẫn phải trả giá theo lối công bình dễ dãi của tiểu thuyết thường tình. Nó chỉ đặt trước mắt ta một sự thật lạnh: một người hoàn toàn tử tế có thể không sống nổi trong một thế giới đã mất khả năng nhận ra sự tử tế.

Người ta thường gọi Myshkin là một hình ảnh gần với Chúa Kitô. Nhưng Dostoevsky không dựng ông thành một đấng cứu rỗi. Ông không cho Myshkin quyền năng. Không cho ông vinh quang. Không cho ông cả sự bảo vệ tối thiểu mà một tâm hồn trong sạch cần có để khỏi bị đời sống làm cho tan nát.

Myshkin chỉ là một câu hỏi.

Một câu hỏi mong manh đặt trước nhân loại:

Con người có thể sống hiền lành đến thế được không?

Và nếu có, thế giới này có để cho người ấy sống không?

Đến cuối truyện, không có câu trả lời. Chỉ còn một khoảng lặng. Một khoảng lặng nặng như tuyết trên mái nhà Nga. Trong khoảng lặng ấy có tiếc nuối, có điên loạn, có những căn phòng đã tắt đèn, có một vẻ đẹp bị làm nhục, và có cảm giác rằng một điều trong sạch vừa mất đi trước mắt ta mà không ai kịp giữ lại.

Khép sách rồi, Myshkin vẫn còn đó.

Không phải như một nhân vật.

Như một vết thương.

Và điều đáng sợ nhất không phải là thế giới đã phụ bạc ông.

Điều đáng sợ nhất là thế giới không cần đổi khác để phụ bạc ông.

Nó chỉ cần là chính nó.

Cung Mi biên tập

 

Mua sách tại đây

Chúng ta phần lớn từng học sử theo niên đại với nhiều chi tiết tên tuổi cần phải nhớ để đi thi, hay đọc sử nước nhà qua lăng kính của một người công dân gắn bó với quê hương và di sản tổ tiên để lại. Tác giả Goscha là một nhà khoa bảng chuyên về sử học từng được một giáo sư sử học quốc tế nổi tiếng người Việt (từng là giáo sư của Miền Nam Việt Nam) hướng dẫn, và từng huấn luyện và khảo cứu ở nhiều nước liên hệ đến Việt Nam (Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Thái Lan). Được một chuyên gia tầm cỡ như thế trình bày những câu chuyện về đất nước, ông bà của của chính chúng ta qua lăng kính đặc biệt của một người ngoại cuộc giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn, và không kém phần thú vị về một đề tài tuy cũ nhưng vẫn còn nhiều điều mới mẻ.
Tuy nhiên, cuốn “Sống Với ‘Thán Dị Sao’ Của Ngài Thân Loan” còn có một phần rất đặc biệt mà chính phần này làm cho tôi thật sự thích thú. Đó là bản dịch tiếng Việt do HT Thích Như Điển thực hiện với đầy đủ 18 chương của cuốn “Thán Dị Sao” từ bản tiếng Nhật hiện đại của Giáo Sư Yamazaki Ryuumyou.
Tóm lại, A History of the Vietnamese là một cuốn sách rất công phu, chi tiết về lịch sử Việt Nam, chú trọng về văn hóa và xã hội, do một Giáo sư Sử học và Việt học người Mỹ từng huấn luyện nhiều sử gia Mỹ về chuyên ngành Việt Nam. Người quen đọc (hay học) sử tiếng Việt theo truyền thống chủ nghĩa dân tộc, hay người từng dùng chủ nghĩa dân tộc như một khí cụ chính trị có thể không đồng ý về một số kết luận, ví dụ về nguồn gốc tiếng Việt hiện đại hay về sự hiện hữu hay không của một "quốc hồn, quốc tính" Việt Nam. Tuy nhiên, đọc một cuốn sử dùng các sử liệu mới nhất và phân tích theo chiều hướng khoa học sử và chính trị hiện đại, người viết bài này cảm thấy biết ơn một nhà học giả ngoại quốc đã đem bao nhiêu thời giờ và tâm huyết để tạo nên một công trình đồ sộ như vậy, chưa từng có trong Anh văn. Ước mong một bản dịch tiếng Việt với đối chiếu các danh từ Anh-Việt và Hán sẽ xuất hiện một ngày nào đó không xa.
Trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, các máy bay trực thăng Mỹ đã bay lên bầu trời Sai Gòn và tìm các đường đến các tàu ở Biển Đông (được những người bên ngoài Việt Nam gọi là Biển Hoa Nam). Chiếc máy bay mà người Việt gọi là "con chuồn chuồn", đã xé nát các gia đình nhưng cũng ràng buộc Mỹ và Việt Nam với nhau.
Chiến tranh ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều giống nhau, nó như những hạt giống gieo trên mặt đất, nhưng điều khác biệt là hạt giống nẩy mầm và nuôi sống loài người, còn bom đạn gieo xuống tàn phá và giết chết loài người, hay để lại những hố sâu trên mặt đất và những vết thương không bao giờ lành trong tâm hồn mỗi con người. Nhưng vết thương không lành là những vết thương đau nhất và cũng "đẹp nhất." -- Trần Mộng Tú.
Tác phẩm Thế Sự Thăng Trầm của Trần Bảo Anh, dày 280 trang, gồm các bài viết: Đẹp & Xấu, Thời Gian Hiện Tượng & Sự Tái Diễn, Từ Chối, Ngô Văn Định Lữ Đoàn Trưởng LĐ 258 TQLC, Chiến Thắng Phượng Hoàng, Ảnh Hưởng Của Lời Nói, Nói Chuyện Anh Hùng, Tôi & Ý Trời, Những Chuyện Can Đảm Cổ Kim, Cách Suy Nghĩ Của Một Người Công Chức, Lương Tâm & Lòng Tận Tụy, Bằng Trời Bằng Bể, Yêu & Rất Yêu, Đang Ở Nơi Khác, Đắc Thế Thất Thế & Tư Cách…
Vì là lớn tuổi mà phải lu bu với nhiều công việc không tên hàng ngày cho nên tôi ít có thì giờ đọc sách. Vậy mà tôi đã dành ra nhiều ngày liên tục để say sưa đọc từ đầu chí cuối tập truyện Trọn Đời Yêu Thương của anh Duy Nhân tặng cho tôi hồi đầu Xuân Quý Mão...
Tôi rất phục những người viết sách, in sách, nhất là những nhà văn định cư ở Hoa Kỳ. Mỗi lần cầm quyển sách trên tay, tôi rất cảm phục tác giả đã chịu khó viết văn. Khi tôi cầm quyển sách "Thiền Tập Với Pháp Ấn" của Cư sĩ, nhà văn Nguyên Giác, nhà xuất bản Ananda Viet Foundation, Tâm Diệu, một Phật tử đã học ở Cal State Fullerton, trình bày, điều đầu tiên tôi tự nhủ: hình bìa đẹp quá, màu sắc nổi bật, Phật đang ngồi thiền trên tòa sen...
“… Đêm qua trăng mọc trên đồi / thấy tâm tịch lặng không người, không ta / ai hỏi thì nhấc cành hoa / thấy gì, được thấy, đều xa muôn trùng …” (bài thơ “Như nắng tà huy” của Cư sĩ Nguyên Giác viết tặng “quý tôn túc Đỗ Hồng Ngọc, Trần Tuấn Mẫn, Nguyên Cẩn, và pháp huynh HT Minh Diệu Nguyễn Thế Đăng,”)
"Các bài viết nơi đây hầu hết là trích từ Kinh Phật, ghi lại trong nỗ lực hoằng pháp để rủ nhau tu học. Người viết không bao giờ tự nhận là giáo sư, giảng sư, thầy dạy hay bậc đàn anh trong đạo.Trong khi những chữ này được gõ lên nơi đây, chỉ là do duyên mà hiện lên. Người viết luôn nhớ lời Đức Phật dạy rằng không hề có ai đang gõ, cũng như chỉ có những dòng chữ đang được đọc, và không hề có ai đang đọc. Người viết luôn luôn viết trong trong tinh thần như thế, trong khi trích lời Phật và ý Tổ để chia sẻ, và để mời gọi nhau cùng bước sang bờ bên kia." Đó là Lời Thưa của tác giả Nguyên Giác về cuốn Thiền Tập Với Pháp Ấn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.