Hôm nay,  

Kẻ Khờ

08/05/202600:00:00(Xem: 357)

 

ke kho

 

Có những cuốn tiểu thuyết chỉ kể một câu chuyện.

Có những cuốn khác không kể gì nhiều. Nó chỉ mở một cánh cửa, để một câu hỏi bước vào. Một câu hỏi nguy hiểm: điều gì sẽ xảy ra nếu một người thật sự hiền lành đi giữa một thế giới đã hư hỏng?

Kẻ Khờ (The Idiot) của Fyodor Dostoevsky là một câu hỏi như thế.

Không hẳn là một cuốn truyện. Đúng hơn, nó là một cuộc thử nghiệm đặt trên linh hồn con người. Một linh hồn trong suốt được đem thả vào giữa một căn phòng đầy khói, đầy gương, đầy những tiếng cười kín đáo và những vết thương không chịu lành.

Ở giữa căn phòng ấy là Hoàng thân Myshkin.

Myshkin trở về nước Nga sau nhiều năm bệnh tật và cách biệt. Ông trở về không mang theo một tham vọng nào, không một kiêu hãnh nào, không một mưu tính nào được giấu dưới lớp áo lịch sự của xã hội. Ông chỉ có lòng thương. Một thứ lòng thương lặng lẽ, không trang điểm, không tự khoe mình, gần như lạc loài giữa một thế giới quen sống bằng dục vọng, quyền lợi, và những cái tôi bị đánh bóng quá lâu.

Bi kịch bắt đầu từ đó.

Vì lòng tốt của Myshkin không làm người ta yên lòng. Nó làm người ta khó chịu.

Người ta gọi ông là kẻ khờ. Không phải vì ông thiếu trí khôn. Trái lại, có lẽ vì ông nhìn thấy quá rõ những điều người khác cố tình che giấu. Ông không biết nói dối cho lịch sự. Không biết tàn nhẫn cho đúng phép. Không biết lạnh lùng để được xem là khôn ngoan. Ông lắng nghe khi người khác nói dối. Ông tha thứ khi người khác mưu toan. Ông nhận ra đau khổ ở nơi người đời chỉ nhìn thấy một sự yếu đuối đáng khinh.

Trong một xã hội sống bằng mặt nạ, người không mang mặt nạ trở thành một điều xúc phạm.

Cuốn truyện đi quanh hai người đàn bà như đi quanh hai ngọn lửa. Nastasya Filippovna là ngọn lửa đã bị gió đen thổi qua: kiêu hãnh, bị thương tổn, đẹp một vẻ đẹp gần như tự hủy. Nàng không tin tình yêu, vì đời nàng đã bị dạy quá sớm rằng tình yêu cũng có thể là một hình thức mua bán. Nàng đốt mình trước khi để người khác đốt mình.

Aglaya Epanchin lặng hơn, nhưng không kém phần nguy hiểm. Nàng mang trong mình thứ kiêu hãnh của tuổi trẻ, thứ mơ mộng muốn tìm một điều tuyệt đối giữa đời sống tầm thường. Với nàng, Myshkin không chỉ là một người đàn ông. Ông là một dấu hiệu. Một ánh sáng. Một điều nàng muốn tin, nhưng cũng không đủ khiêm nhường để đón nhận.

Đứng giữa hai người đàn bà ấy là Myshkin. Không phải như một anh hùng để chọn lựa và chiến thắng. Ông đứng đó như một người cảm thấy quá nhiều, hiểu quá sâu, và vì thế không thể bước về phía nào mà không làm vỡ một điều gì trong chính mình.

Đó là chỗ tàn nhẫn của Dostoevsky.

Ông không viết một câu chuyện trong đó lòng tốt cứu được thế giới. Ông viết một câu chuyện trong đó lòng tốt bị thế giới nhìn ngắm, thử thách, nghi ngờ, rồi nghiền nát. Không bằng một nhát dao. Bằng từng cái nhìn. Từng lời nói. Từng sự hiểu lầm. Từng bàn tay đưa ra quá muộn.

Kẻ Khờ ám ảnh vì nó không chịu an ủi người đọc. Nó không cho đức hạnh một phần thưởng. Nó cũng không bắt sự tàn nhẫn phải trả giá theo lối công bình dễ dãi của tiểu thuyết thường tình. Nó chỉ đặt trước mắt ta một sự thật lạnh: một người hoàn toàn tử tế có thể không sống nổi trong một thế giới đã mất khả năng nhận ra sự tử tế.

Người ta thường gọi Myshkin là một hình ảnh gần với Chúa Kitô. Nhưng Dostoevsky không dựng ông thành một đấng cứu rỗi. Ông không cho Myshkin quyền năng. Không cho ông vinh quang. Không cho ông cả sự bảo vệ tối thiểu mà một tâm hồn trong sạch cần có để khỏi bị đời sống làm cho tan nát.

Myshkin chỉ là một câu hỏi.

Một câu hỏi mong manh đặt trước nhân loại:

Con người có thể sống hiền lành đến thế được không?

Và nếu có, thế giới này có để cho người ấy sống không?

Đến cuối truyện, không có câu trả lời. Chỉ còn một khoảng lặng. Một khoảng lặng nặng như tuyết trên mái nhà Nga. Trong khoảng lặng ấy có tiếc nuối, có điên loạn, có những căn phòng đã tắt đèn, có một vẻ đẹp bị làm nhục, và có cảm giác rằng một điều trong sạch vừa mất đi trước mắt ta mà không ai kịp giữ lại.

Khép sách rồi, Myshkin vẫn còn đó.

Không phải như một nhân vật.

Như một vết thương.

Và điều đáng sợ nhất không phải là thế giới đã phụ bạc ông.

Điều đáng sợ nhất là thế giới không cần đổi khác để phụ bạc ông.

Nó chỉ cần là chính nó.

Cung Mi biên tập

 

Mua sách tại đây

Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm...
Mỗi cuối tuần, nếu không có việc gì đặc biệt, tôi thường gặp anh Lê Lạc Giao bên ly cà phê quen thuộc. Chúng tôi ít khi nói trực tiếp về cuốn sách anh đang viết. Câu chuyện thường có tính tản mạn. Anh thường kể về một người bạn vừa mất, một bài thơ cũ bất chợt được nhắc lại, kỷ niệm ở Sài Gòn trước 1975, một lần trò chuyện với Nguyễn Lương Vỵ, một bài thơ tình của Du Tử Lê, rồi từ đó mới lan sang những điều khác.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả. Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương.
Hồi Ký Tiểu Thuyết Lê Lạc Giao Ngày 19 tháng 9 năm 2026 lúc 4:00 pm Tại Coffee Factory 15582 Brookhurst St. Westminster, CA 714-418-0757
Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.
Tháng 6 vỡ nắng gọi mùa hè xa. Một mùa hạ đến sau nhịp xuân gãy đổ của năm 1975. Lẽ đáng mọi người phải được sống thanh bình, yên ả trong một đất nước đã thống nhất, mọi nỗ lực của toàn dân phải quy về một mục đích chung là xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ của chiến tranh, thù hận. Thế nhưng tháng 6 năm đó bắt đầu bằng một lời hứa lừa đảo, dối trá nhất trong lịch sử từ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn: quân cán chính của chính quyền VNCH phải trình diện để học tập cải tạo trong 10 ngày!
Nếu "Làng Sơn Dầu" đại diện cho Ngu Yên trong vai trò người kể chuyện, và tuyển tập thơ "1978-2026" cho thấy ông ở vai trò nhà thơ đi suốt gần nửa thế kỷ, thì "Nhạc Ngoại Quốc" lại giới thiệu một chân dung khác của cùng một người cầm bút: nhà nghiên cứu và người thực hành dịch thuật. Ngay từ trang mở đầu, tác giả đã minh định rõ ràng mục đích của công trình này: đây là tuyển tập mang tính giáo dục, nhằm giới thiệu sự phong phú của âm nhạc thế giới cùng thực hành dịch ca khúc, không nhằm mục đích thương mại. Điều làm nên giá trị đặc biệt của tuyển tập này không chỉ nằm ở số lượng bài hát được chuyển ngữ, mà ở việc Ngu Yên đã xây dựng hẳn một khung lý thuyết bài bản để soi sáng cho từng bản dịch, biến tập sách vừa là một tuyển tập ca từ để hát, vừa là một công trình học thuật thu nhỏ về nghệ thuật dịch ca khúc.
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
LTS: Nơi đây sẽ trích dịch theo bản tiếng Anh "Soccer in Sun and Shadow" [Bóng tròn dưới ánh mặt trời và bóng râm] do Mark Fried chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha của nhà văn Eduardo Galeano (1940–2015). Galeano là một nhà báo, nhà sử học và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Uruguay. Galeano từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế, bao gồm Giải thưởng Lannan đầu tiên về Tự do Văn hóa. Sau đây là trích dịch một số đoạn văn.
Tôi không ưa triết lý. Một thời tuổi thơ của tôi là học về triết lý, trực tiếp từ những vị thầy nổi tiếng như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, LM Kim Định... Nhiều năm sau, tôi khám phá ra mình không ưa triết lý, và chỉ còn thích đọc ca dao (mà phải là lục bát), truyện võ hiệp (mà phải là Kim Dung), và rồi ưa thích sống một đời hồn nhiên, thơ dại (kiểu thiền sư Tế Điên)... và vân vân. Đó là lý do tôi kinh ngạc khi thấy nhà văn Kim Vũ đi theo chiều ngược lại: từ những gì rất thơ mộng, rồi trở về triết lý phức tạp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.