Hôm nay,  

Kim Vũ ra tập thơ mới tiếng Anh với câu hỏi triết lý “REALLY?”

05/07/202608:05:00(Xem: 533)
blankPHOTO: Từ trái: nhà báo Phan Tấn Hải cầm tập thơ "REALLY?" của nhà thơ Kim Vu (phải).

Kim Vũ ra tập thơ mới tiếng Anh
với câu hỏi triết lý “REALLY?”
 

Phan Tấn Hải
 

Tôi không ưa triết lý. Một thời tuổi thơ của tôi là học về triết lý, trực tiếp từ những vị thầy nổi tiếng như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, LM Kim Định... Nhiều năm sau, tôi khám phá ra mình không ưa triết lý, và chỉ còn thích đọc ca dao (mà phải là lục bát), truyện võ hiệp (mà phải là Kim Dung), và rồi ưa thích sống một đời hồn nhiên, thơ dại (kiểu thiền sư Tế Điên)... và vân vân.

Đó là lý do tôi kinh ngạc khi thấy nhà văn Kim Vũ đi theo chiều ngược lại: từ những gì rất thơ mộng, rồi trở về triết lý phức tạp. Kim Vũ đã từng xuất bản 8 tác phẩm Việt và Anh, ấn hành thơ song ngữ, đã thực hiện 2 tập thơ dịch từ các nhà thơ nổi tiếng sang tiếng Anh, trong đó ông đã dịch thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thiên Thư… và mới tuần này, Kim Vũ phát hành tập thơ triết lý tiếng Anh, tựa đề “REALLY?” do nhà xuất bản ARCHWAY ấn hành. Dĩ nhiên, trong tình thân, nhà văn Kim Vũ có giải thích, trực tiếp trong một quán cà phê và sau đó là qua email... về “REALLY?” và…
 

“REALLY?” là tập thơ thứ hai bằng Anh ngữ của Kim Vũ xuất bản trong năm nay. Mở đầu là “REVELATION”, do nhà xuất bản PEGASUS bên Anh trình làng vào tháng 2 năm 2026, gồm nhiều bài thơ về nhiều đề tài, từ dục tính tới những suy ngẫm triết học, cũng như một bút ký du lịch khá dài lấy cảm hứng và được sáng tác sau một chuyến du lịch Âu châu vào năm 1996.

“REALLY?” cũng theo một loại hình tương tự, do. nhà xuất bản ARCHWAY tại Hoa Kỳ ra mắt vào đầu tháng 6 năm 2026. Phần giới thiệu của nhà xuất bản Archway in phía sau cuốn sách viết bằng tiếng Anh nơi đây chúng ta dịch là:
"Thị tập “REALLY?” đề cập đến những câu hỏi triết học cốt lõi về thái độ sống, giúp bạn thấy rằng sự mãn nguyện và hạnh phúc không hề nằm ngoài tầm với. Tác phẩm tôn vinh tình yêu và thiên nhiên, đồng thời làm nổi bật mối liên kết giữa chúng. Cuốn sách cũng mang đến cái nhìn hài hước về tuổi già và khắc họa một mối quan hệ tưởng chừng bất khả thi nhưng lại khiến bạn mỉm cười.)

“REALLY?” gồm 37 bài thơ trong vỏn vẹn 54 trang giấy, với những bài không quá bốn câu, như bài thơ sau:

IS IT?
Is it the end of philosophy
Now that science has advanced so much?
Are you kidding me?
You haven’t seen anything yet!
 
(Chúng ta nơi đây có thể dịch là:
 
CÓ PHẢI?
Có phải triết học đã đến hồi kết
Giờ đây khi khoa học đã tiến bộ vượt bậc?
Bạn đang giỡn à?
Bạn vẫn chưa thấy gì đâu!)

Lại có bài dài đến 75 dòng trải dài bốn trang giấy có tên “THE DAY I MARRY YOU” (Ngày tôi cưới em).
Một bài khác cũng chỉ có bốn dòng mang tên “THE NON-DUAL DHARMA GATE” (Cửa pháp Bất nhị) như sau:
 

You speak.
I listen.
Transient images come and go in complete silence.
Past, present, and future are not different, nor separated.
 
(Chúng ta có thể dịch là:


Em nói.
Tôi nghe.
Các hình ảnh thoáng qua đến và đi trong im lặng hoàn toàn.
Quá khứ, hiện tại và tương lai không khác biệt, không rời nhau.)
 

Về hình thức, tập thơ áp dụng một thể thơ hoàn toàn mới trong Anh ngữ, áp dụng triệt để nguyên tắc “ying-yang” (bằng-trắc) phổ biến trong thi ca Việt Nam và Trung Hoa, hai ngôn ngữ đơn âm độc nhất trên thế giới. Những bài thơ cũng theo quy định về vần ở cuối câu cũng như ở giữa câu, làm cho những bài thơ đọc lên dễ nghe và hấp dẫn.

Trong năm nay, Kim Vũ cũng dự tính xuất bản một tác phẩm văn xuôi bằng Anh ngữ phiên dịch bốn truyện ngắn tiếng Việt của bốn tác giả đương đại cũng như trong thời Đệ Nhất Cộng Hoà của miền Nam nước Việt vào những năm ’50s của thế kỷ trước: Mai Thảo, Tràm Cà Mâu, Phạm Tín An Ninh và Thanh Thương Hoàng, có nhan đề sách là “THE WOMAN ON NITELVA BRIDGE” (NGƯỜI ĐÀN BÀ TRÊN CẦU NITELVA).

Trong tương lai, Kim Vũ dự tính viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử, dàn trải từ tác phẩm “THE REPUBLIC” của Plato cho đến những hậu quả mà nhân loại phải hứng chịu ngày hôm nay.

Tác giả Kim Vu còn được các bạn đồng môn Chu Văn An thời cuối thập niên 1950s biết với tên khai sanh là Vũ Mạnh Phát, sanh quán ở Hà Nội, di cư vào Sài Gòn năm 1954. Như thế, sau các năm học trung học Chu Văn An (Sài Gòn), cậu học sinh Vũ Mạnh Phát được học bổng USAID sang Hoa Kỳ học ngành kiến trúc từ các năm 1959-1964. Sau khi tốt nghiệp kiến trúc tại đại học Catholic University of America (tại thủ đô Washington, DC) năm 1964, Vũ Mạnh Phát về nước làm việc trong ngành Kiến trúc và thiết kế Đô Thị. Năm 1973, ông được một học bổng nghiên cứu chuyên ngành phát triển đô thị tại viện nghiên cứu Institute of Social Studies in The Hague (Hòa Lan). Năm 1974, về nước. Trong khi làm việc chuyên ngành kiến trúc và thiết kế đô thị, thời gian trước 1975, ông đã tham dự các Hội nghị quốc tế tại Thái Lan, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản v.v...

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ năm 1991 theo diện thân nhân bảo lãnh, ông làm việc trong cương vị thông ngôn về y khoa tại bệnh viện Stanford Hospital and Clinics, cho tới năm 2016. Sau khi về hưu, ông dọn từ Bắc California về Quận Cam, Nam California – thời gian toàn thời để đọc, viết, làm thơ, dịch, nghiên cứu…

Kim Vu đã chứng tỏ được tài năng trên nhiều lĩnh vực sáng tác. Năm 2004, nhà phê bình văn học Diệu Tần Nguyễn Tinh Vệ khi nhận xét về Kim Vũ qua tập truyện ngắn Hạnh Ngộ Mong Manh như sau: "Qua tập truyện này, tôi hiểu là ông một người biết thẩm âm lời ca điệu nhạc rất sành sõi. Độc giả cũng còn có thể gán cho ông có tài hội họa và điêu khắc nữa. Ngoài ra ông có nhiều dịp xuất ngoại học hỏi, tu nghiệp quan sát ở vài nước Âu Châu và nhiều nước Á Châu, nên ông có một vốn liếng, kinh nghiệm, lịch lãm để sáng tác và biên khảo, dịch thuật vững vàng."

Độc giả quan tâm, có thể liên lạc trực tiếp tới nhà thơ Kim Vũ: [email protected] .



Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh.
Nhân vật trong tiểu thuyết tôi là những khả thể vô thức của chính tôi (Kundera). Bởi cuối cùng là để vượt ra, vượt qua: một cái đường biên mong manh mà mênh mông đó. Ở đó, Bên kia đường biên “bản ngã” của riêng tôi chấm dứt (trang 19). Nghĩa là đạt đến vô ngã / non-self (không phải no-self). Cái đường biên đó do chính tác giả tạo ra cho mình và loay hoay tìm lối thoát, càng tìm lối thoát càng bị quấn chặt. Chỉ vượt ra, vượt qua (Gaté, gaté…paragaté…) đường biên khi có được trí Bát nhã (Prajna) thấy được ngũ uẩn giai Không, mới “độ nhất thiết khổ ách”.
Đây là một tác phẩm lịch sử từng giai đoạn của Quân Lực Việt Nam Công Hòa. Nhà biên soạn sử học Hồ Đắc Huân, đã miệt mài trong bao nhiêu năm, cô đọng, trau chuốt, giao tiếp với nhiều nguồn tin tức khác nhau, cộng với hành trình từ bản thân, là chứng nhân lịch sử; đã cho ra mắt một tác phẩm để đời!
Có Tự ngã không? Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ. Phật giáo không cho có cái gọi là Tự ngã, tiểu ngã, đại ngã, linh hồn, nhưng tin có “Nghiệp mang theo” để “trả quả”. Cái gì mang Nghiệp theo? Thần thức tái sinh, luân hồi?
Cuốn Hồi Ký dày khoảng 500 trang, khổ lớn, với phần biên tập và thiết kế sách của Trịnh Y Thư, phần thiết kế bìa của Nina Hòa Bình Lê, và gồm 7 phần chính, ngoài Lời Ngỏ và Kết Từ. Phần I, tác giả nhớ lại thời còn ở Hà Nội trước năm 1954 với bố mẹ và anh chị; Phần II kể về chuyến di cư đầu đời một thân một mình của cô gái 16 tuổi từ Hà Nội vào Sài Gòn, lập gia đình và những cơ duyên đưa đẩy vào ngành nghệ thuật điện ảnh Miền Nam trước năm 1975; Phần III kể chuyện lưu vong ra hải ngoại trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, làm người tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Canada, với hai bàn tay trắng làm lại cuộc đời và những phấn đấu gian lao cực khổ để bước vào sân khấu điện ảnh lộng lẫy của Hollywood; Phần IV thuật lại những chuyện vinh quang trong sự nghiệp điện ảnh và những buồn vui của bản thân, gia đình, và những mối giao tình với bạn bè trong cuộc sống tại Hoa Kỳ; Phần V kể chuyện “đứng dậy, đứng thẳng, đi tới” sau những lần vấp ngã để trở thành nhà diễn thuyết khắp thế giới,
“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
Kể từ tập thơ Vườn Dĩ Vãng ấn hành năm 1972 của thời trai trẻ phục vụ trong quân ngũ nơi quê nhà cho đến tác phẩm Hồi Sinh thực hiện năm 2020 nhưng vì trục trặc kỹ thuật, ấn hành năm 2021 nơi xứ người, nhà thơ Trần Văn Sơn đã trải qua cuộc hành trình từ những bài thơ xuất hiện trên trang báo ở Sài Gòn vào giữa thập niên 60 cho đến thời điểm ấn hành tuyển tập nầy với thi ca hơn nửa thế kỷ.
Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.