Hôm nay,  

Đọc Tổ Quốc Trăm Năm (Lê Lạc Giao) Ký Ức Chống Lại Sự Hấp Thụ của Lịch Sử

02/09/202621:31:00(Xem: 269)
blank

Đọc Tổ Quốc Trăm Năm (Lê Lạc Giao)
Ký Ức Chống Lại Sự Hấp Thụ của Lịch Sử
 
Tô Đăng Khoa

 

Mỗi cuối tuần, nếu không có việc gì đặc biệt, tôi thường gặp anh Lê Lạc Giao bên ly cà phê quen thuộc. Chúng tôi ít khi nói trực tiếp về cuốn sách anh đang viết. Câu chuyện thường có tính tản mạn. Anh thường kể về một người bạn vừa mất, một bài thơ cũ bất chợt được nhắc lại, kỷ niệm ở Sài Gòn trước 1975, một lần trò chuyện với Nguyễn Lương Vỵ, một bài thơ tình của  Du Tử Lê, rồi từ đó mới lan sang những điều khác. Nhiều năm qua, tôi vẫn có cảm giác những cuốn sách của Lê Lạc Giao cũng được hình thành theo cách ấy. Chúng lớn dần lên từ những con người, những cuộc gặp gỡ, những ký ức tưởng như rất riêng tư nhưng bằng cách nào đó lại chạm vào một phần ký ức rộng hơn của cả một thế hệ.

Khi đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi có cảm giác gần gũi như gặp lại một dòng chảy đã hiện diện từ rất lâu trong văn nghiệp của anh. Tôi từng bắt gặp nó trong Có Một Thời Nhân Chứng, trong Nụ Cười Buồn Mùa Hè, trong Dòng Đời. Những cuốn sách ấy khác nhau về nhân vật, khác nhau về bối cảnh, về thời gian, nhưng vẫn có một điều gì đó âm thầm nối chúng lại với nhau. Nhiều năm trước tôi nghĩ điều ấy nằm ở chiến tranh. Sau này tôi nghĩ nó nằm ở thân phận. Đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi không còn chắc nữa. Có những lúc ngồi với cuốn sách, tôi cảm thấy mình đang đứng trước những khuôn mặt hơn là trước những ý niệm.

Có cả một kệ sách đã hình thành quanh giai đoạn này: những năm tháng tù cải tạo sau 1975, những cuộc chuyển trại trong đêm, những năm dài ở các trại miền Bắc. Trong số đó có những cuốn ghi lại hệ thống, phơi bày cơ chế, muốn lịch sử biết điều gì đã xảy ra; có những cuốn đi sâu vào tâm lý chịu đựng, nhìn người tù như chứng nhân của chính mình; cũng có những cuốn muốn lịch sử hóa một giai đoạn chưa được ghi chép đầy đủ, muốn đưa những năm tháng ấy vào hồ sơ. Tổ Quốc Trăm Năm ra đời muộn, đi giữa các vùng ấy nhưng vẫn giữ một dáng riêng. Những trang sách về những đêm chuyển trại, về tiếng giọng Nghệ An khô khốc của cán bộ giám thị, về những buổi thuyết trình chính trị lặp đi lặp lại như đĩa hát mòn kim, đều hiện diện rất rõ. Tuy vậy, sức sống của cuốn sách nằm nhiều hơn ở những người đang sống trong hệ thống đó: cụ thể, không thể thay thế, không tan hết vào vai trò mà lịch sử gán cho họ. Đình ngồi dưới gốc bã đậu mỗi chiều nhìn về hướng Sài Gòn là Đình, người đàn ông ấy, với nỗi ngóng chờ ấy, trong chiều tà ấy. Ba Răng vàng nói với những tù nhân mới: “Gọi tôi là anh Ba cho tiện,” vì đó là cách một người cụ thể, trong một tình huống cụ thể, chọn cách nói với những người khác. Nghiệp chen lên tai Hảo nói nhỏ về tin chuyển trại, vì đó là điều Nghiệp đã làm, một lần, vào buổi chiều đó.

Tôi bị ám ảnh đoạn Hảo nhận ổ bánh mì sau nhiều năm ngoài Bắc. Lê Lạc Giao viết: “Anh chăm chú nhìn nó như gặp lại người thân bấy lâu xa cách của mình.” Tôi đánh dấu vào mép trang rồi đọc tiếp. Mấy hôm sau mở sách ra, mắt tôi lại dừng đúng chỗ ấy. Có điều gì đó xảy ra trong khoảnh khắc đó mà tôi muốn nói cho rõ hơn. Một ổ bánh mì vốn là chuyện rất nhỏ. Trong bảy trăm trang sách còn biết bao chuyện lớn hơn. Thế nhưng chính chi tiết này lại ở lại lâu nhất — ở lại trong trang sách sau khi tôi đã đọc qua, rồi ở lại trong ký ức tôi sau khi đã gấp sách lại. Và chính cái cách nó ở lại ấy là điều tôi muốn gọi bằng nhan đề bài viết này.
 

Lịch sử không giữ lại ổ bánh mì theo cách mà văn chương giữ lại nó. Khi đi qua lịch sử, những chi tiết như thế thường được đặt vào những phạm vi rộng hơn: thiếu thốn vật chất thời hậu chiến, sự khác biệt văn hóa Nam Bắc, chấn thương tâm lý của người tù cải tạo. Những cách nhìn ấy đều có giá trị của chúng. Chúng giúp người đọc thấy được bối cảnh lớn hơn mà chi tiết đang nằm trong đó. Tuy vậy, càng nghĩ về đoạn văn này, tôi càng thấy có một điều gì đó vẫn còn ở bên ngoài những phạm vi ấy. Đó là cái nhìn của Hảo khi nhìn ổ bánh mì. Cái nhìn của người đàn ông cụ thể này, vào buổi chiều cụ thể, sau những năm tháng mà chỉ riêng anh đã sống qua.

Khi mắt tôi dừng lại ở đoạn ấy lần thứ hai —không chủ đích — tôi bắt đầu nghĩ đến một khả năng khác. Có thể ký ức người đọc cũng vận hành theo một cách tương tự ký ức nhân vật. Hảo nhìn ổ bánh mì và nhận ra một điều gì đó vượt khỏi chính ổ bánh mì. Tôi đọc câu văn ấy rồi quay lại với nó nhiều ngày sau. Cảm giác ấy khó giải thích. Giống như có một điểm nào đó trên trang sách giữ lại lực hút riêng của nó. Điều gì xảy ra trong quá trình ấy, tôi không chắc mình hiểu hết. Nhưng dường như có một thứ được truyền đi từ kinh nghiệm sống, qua câu văn, đến người đọc mà không cần đi ngang qua nhiều tầng giải thích.

Cũng như mùi hoa xoan trong buổi sáng đầu tiên trên đất Bắc, như hũ dưa cải được gửi từ quê nhà, như người cha già lặn lội đi thăm con sau nhiều năm xa cách:  Mỗi chi tiết đều mang một đời sống riêng. Khi đọc chúng, tôi thường có cảm giác mình đang đứng trước một điều gì đó rất khó thay thế. Chỉ cần dịch nó lên một tầng khái quát hơn, một phần nào đó của nó bắt đầu nhạt đi. Có lẽ vì vậy mà những chi tiết ấy vẫn còn ở lại rất lâu sau khi câu chuyện đã đi qua những trang khác.
 

Vì quen biết Lê Lạc Giao ngoài đời nên tôi đọc cuốn sách theo một cách khác. Tôi biết nhiều nhân vật trong sách không xuất hiện từ trí tưởng tượng đơn thuần. Phía sau họ thường có một con người thật, một cuộc đời thật, một cuộc gặp thật nào đó. Điều ấy tạo cho tác phẩm một sức nặng riêng. Khi đọc, tôi nhiều lần có cảm giác người viết đang mang theo ký ức của những người đã từng ngồi trước mặt mình kể chuyện. Họ không hiện ra như tư liệu. Họ hiện ra như những con người mà sự hiện diện của họ đã để lại một món nợ ký ức nào đó trong người kể.

Những diễn giải về chiến tranh Việt Nam và hậu chiến sẽ tiếp tục thay đổi. Mỗi thế hệ sẽ đọc lại giai đoạn này theo ngữ cảnh mới. Những cách gọi tên, những đánh giá chính trị rồi cũng sẽ thay đổi. Nhưng có những thứ không thể thay đổi được bởi bất kỳ diễn giải nào, vì chúng tồn tại ở một tầng trước khi diễn giải đặt tên. Đình ngồi dưới gốc bã đậu nhìn về hướng Sài Gòn không cần ai diễn giải để tồn tại. Hảo nghe giọng Nghệ An khô khốc và hình dung ra một cái gì đó khô cằn, quắt queo trong đầu; chi tiết ấy tự mang theo sức nặng của nó. Ba Răng vàng cảnh báo nhóm tù mới về việc liên lạc với nhau, vào buổi trưa đó, trên con đường xuống bếp. Câu nói ấy ở lại như dấu vết của một người, một giọng nói, một hoàn cảnh.

Chữ “hấp thụ” trong tiêu đề “Ký Ức chống lại sự hấp thụ của Lịch Sử” đến với tôi khá muộn, sau khi đọc xong sách nhiều ngày. Tôi dùng nó theo một nghĩa rất giản dị. Lịch sử cần khái quát hóa để có thể trở thành lịch sử. Nó cần những mô thức, những phạm trù, những đường nét lớn. Nhờ vậy mà người đọc có thể nhìn thấy cả một thời kỳ. Nhưng trong quá trình ấy, những gì chỉ xảy ra một lần, với một con người cụ thể, thường khó giữ nguyên hình dạng ban đầu của nó. Chúng không mất đi mà sống dưới một tên gọi rộng hơn chính mình.
 

Đó là di sản của Tổ Quốc Trăm Năm. Những con người được giữ lại trong tính cụ thể không thể thay thế của họ, trước khi lịch sử kịp đồng hóa họ vào một danh mục. Lê Lạc Giao viết về giai đoạn này như người đã ngồi nghe — một nhân chứng của một thời điêu linh nghe những người thật kể về những năm tháng thật, rồi cúi xuống nhặt lại từng chi tiết nhỏ trước khi chúng biến mất. Ông không cần lớn tiếng với lịch sử. Có lẽ chỉ cần giữ cho những chi tiết ấy chưa mất đi quá nhanh vào trường khái niệm cũng đã là một việc rất khó.

Bởi vậy, nếu phải nói điều gì làm Tổ Quốc Trăm Năm đứng riêng trong số rất nhiều tác phẩm viết về cùng một giai đoạn, tôi nghĩ câu trả lời không nằm ở tư liệu, ở quan điểm. Điều còn ở lại sau khi gấp sách — ít nhất đối với tôi — là cảm giác vừa gặp thêm vài con người mà lẽ ra mình đã không bao giờ có cơ hội gặp. Họ bước ra từ những trang sách với đầy đủ những vui buồn, chờ đợi, thương nhớ và giới hạn của một đời người. Rồi họ ở lại đâu đó trong ký ức người đọc — theo cách một ổ bánh mì ở lại, theo cách mắt người đọc dừng lại ở một trang sách mấy hôm sau mà không biết tại sao.

 

Tô Đăng Khoa

blank



Đây là tác phẩm thứ 5 trong chuỗi sách góp phần tư duy và thảo luận cho tiến trình dân chủ hóa, được viết và giới thiệu bởi tác giả Đào Tăng Dực. Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm mới nhất của tôi nêu trên. Đây là tác phẩm thứ 5 trong chuỗi sách góp phần tư duy và thảo luận cho tiến trình dân chủ hóa.
Đây là một tuyển tập đặc biệt của Tạp chí Ngôn Ngữ, chủ đề về Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành tháng 5 năm 2024. Nhan đề sách còn là “Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc: Bằng Hữu & Văn Chương.” Sách dày 716 trang, bao gồm tiểu sử, thơ và văn xuôi của vị bác sĩ nổi tiếng, khi làm thơ ký tên là Đỗ Nghê và khi viết văn xuôi ký tên thật là Đỗ Hồng Ngọc. Và phần cuối là tác phẩm của hơn 60 nhà văn, nhà phê bình, họa sĩ và nhạc sĩ viết về, vẽ chân dung, phổ thơ Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc. Tất cả các thơ, văn, bài viết trong tuyển tập đều xuất sắc.
Quý vị có bao giờ tự hỏi cảm giác thật sự khi thốt ra từ “thù ghét” là gì? Như khi nói “tui ghét người đó” hay “tui ghét ăn rau,” chúng ta có thể đang thể hiện sự không hài lòng, căm phẫn, tức giận hoặc có thể là đơn giản chỉ là không thích mà thôi. Từ điển Merriam-Webster mô tả từ “thù ghét” là “sự thù địch và ác cảm mãnh liệt thường xuất phát từ cảm giác sợ hãi, tức giận hoặc cảm giác bị tổn thương.” Trên khắp thế giới, các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu về sự thù ghét từ các lĩnh vực như giáo dục, lịch sử, pháp luật, lãnh đạo, tâm lý học, xã hội học và nhiều ngành khác.
Tôi thích đọc “thơ ngắn” của Đỗ Nghê. Những bài thơ “ý tại ngôn ngoại,” đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc đều nhận ra thêm một cái gì mới, khác, mở ra những chiều kích bát ngát hương thơm...
Tôi vừa được nhà văn Duy Nhân tức Nguyễn Đức Đạo trao tặng tập truyện “Trọn Đời Yêu Thương”. Sách dày 336 trang với trang bìa được trình bày thật đơn giản nhưng nội dung rất súc tích. Tập truyện gồm có 29 bài văn xuôi và 7 bài thơ...
Cầm trên tay tập thơ “Thơ hai dòng & cỏ biếc” của anh Trần Hoàng Vy gởi tặng mà thấy vui chi lạ. Tập thơ đẹp, trang nhã và tươi rói như còn thơm mùi mực. Tập thơ dày 148, được ấn hành bởi nhà xuất bản Nhân Ảnh, tháng 4/2024...
Lịch sử Phật Giáo thế giới hơn hai mươi lăm thế kỷ qua không thiếu những câu chuyện có sức thu hút đặc biệt về những đấng minh quân đem Chánh Pháp của đức Phật ra để trị quốc. Chẳng hạn, Vua A-dục (Aśoka – 304-232 BC) ở Ấn Độ, Vua Lương Võ Đế (464-549) ở Trung Hoa, Vua Songtsän Gampo (thế kỷ thứ 7 Tây lịch) ở Tây Tạng, Thánh Đức Thái Tử (574-622) ở Nhật Bản, Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) ở Việt Nam, v.v…
“Chân dung” do Ngô Thế Vinh vẽ ra không giống các chân dung của các tác giả khác. Đặc biệt là với các cây viết đã khuất núi, anh phân tích chi tiết căn bệnh đưa tới sự ra đi của các bạn này. Như bệnh ung thư cột sống sarcoma của Nguyễn Xuân Hoàng, ung thư gan của Nguyễn Mộng Giác, ung thư mắt của Cao Xuân Huy, ung thư tụy tạng của Nghiêu Đề, ung thư tuyến tiền liệt của Đinh Cường. Những chi tiết này sẽ là những tài liệu quý báu cho văn học sử sau này.
Tập “Thơ Khánh Trường” ra đời chỉ để “Vui thôi mà”, gồm ba phần: Phần 1: Ngẫu Hứng. Phần 2: Mai Anh Về Miền Trung & Những Bài Thơ Khác; và Phần 3: Khổ Lụy. Ngẫu Hứng là phần tôi thích nhất, tập hợp những bài thơ ngắn “bất chợt nẩy ra trong đầu”. Thơ được viết tự nhiên, không màu mè, không cơ bắp, không gồng, không làm dáng. Là phần mở đầu, Ngẫu Hứng cũng là phần tách riêng khỏi tập thơ, ở một vùng đất cao hơn, trên một khí hậu tươi mát, có nhịp sống tâm linh riêng. Trong khuôn khổ bài này xin chỉ đọc phần “Ngẫu Hứng”.
Lịch sử không mắc kẹt trong Nguyễn Thanh Việt, tác giả cuốn tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm tình viên, Kẻ hai mặt, Kẻ nằm vùng, Kẻ nội tuyến) xuất bản năm 2015, nó bùng nổ dữ dội với nỗi phẫn nộ rát bỏng hiếm thấy trên một trang viết văn học nào...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.