Hôm nay,  

Đọc Tổ Quốc Trăm Năm (Lê Lạc Giao) Ký Ức Chống Lại Sự Hấp Thụ của Lịch Sử

02/09/202621:31:00(Xem: 197)
blank

Đọc Tổ Quốc Trăm Năm (Lê Lạc Giao)
Ký Ức Chống Lại Sự Hấp Thụ của Lịch Sử
 
Tô Đăng Khoa

 

Mỗi cuối tuần, nếu không có việc gì đặc biệt, tôi thường gặp anh Lê Lạc Giao bên ly cà phê quen thuộc. Chúng tôi ít khi nói trực tiếp về cuốn sách anh đang viết. Câu chuyện thường có tính tản mạn. Anh thường kể về một người bạn vừa mất, một bài thơ cũ bất chợt được nhắc lại, kỷ niệm ở Sài Gòn trước 1975, một lần trò chuyện với Nguyễn Lương Vỵ, một bài thơ tình của  Du Tử Lê, rồi từ đó mới lan sang những điều khác. Nhiều năm qua, tôi vẫn có cảm giác những cuốn sách của Lê Lạc Giao cũng được hình thành theo cách ấy. Chúng lớn dần lên từ những con người, những cuộc gặp gỡ, những ký ức tưởng như rất riêng tư nhưng bằng cách nào đó lại chạm vào một phần ký ức rộng hơn của cả một thế hệ.

Khi đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi có cảm giác gần gũi như gặp lại một dòng chảy đã hiện diện từ rất lâu trong văn nghiệp của anh. Tôi từng bắt gặp nó trong Có Một Thời Nhân Chứng, trong Nụ Cười Buồn Mùa Hè, trong Dòng Đời. Những cuốn sách ấy khác nhau về nhân vật, khác nhau về bối cảnh, về thời gian, nhưng vẫn có một điều gì đó âm thầm nối chúng lại với nhau. Nhiều năm trước tôi nghĩ điều ấy nằm ở chiến tranh. Sau này tôi nghĩ nó nằm ở thân phận. Đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi không còn chắc nữa. Có những lúc ngồi với cuốn sách, tôi cảm thấy mình đang đứng trước những khuôn mặt hơn là trước những ý niệm.

Có cả một kệ sách đã hình thành quanh giai đoạn này: những năm tháng tù cải tạo sau 1975, những cuộc chuyển trại trong đêm, những năm dài ở các trại miền Bắc. Trong số đó có những cuốn ghi lại hệ thống, phơi bày cơ chế, muốn lịch sử biết điều gì đã xảy ra; có những cuốn đi sâu vào tâm lý chịu đựng, nhìn người tù như chứng nhân của chính mình; cũng có những cuốn muốn lịch sử hóa một giai đoạn chưa được ghi chép đầy đủ, muốn đưa những năm tháng ấy vào hồ sơ. Tổ Quốc Trăm Năm ra đời muộn, đi giữa các vùng ấy nhưng vẫn giữ một dáng riêng. Những trang sách về những đêm chuyển trại, về tiếng giọng Nghệ An khô khốc của cán bộ giám thị, về những buổi thuyết trình chính trị lặp đi lặp lại như đĩa hát mòn kim, đều hiện diện rất rõ. Tuy vậy, sức sống của cuốn sách nằm nhiều hơn ở những người đang sống trong hệ thống đó: cụ thể, không thể thay thế, không tan hết vào vai trò mà lịch sử gán cho họ. Đình ngồi dưới gốc bã đậu mỗi chiều nhìn về hướng Sài Gòn là Đình, người đàn ông ấy, với nỗi ngóng chờ ấy, trong chiều tà ấy. Ba Răng vàng nói với những tù nhân mới: “Gọi tôi là anh Ba cho tiện,” vì đó là cách một người cụ thể, trong một tình huống cụ thể, chọn cách nói với những người khác. Nghiệp chen lên tai Hảo nói nhỏ về tin chuyển trại, vì đó là điều Nghiệp đã làm, một lần, vào buổi chiều đó.

Tôi bị ám ảnh đoạn Hảo nhận ổ bánh mì sau nhiều năm ngoài Bắc. Lê Lạc Giao viết: “Anh chăm chú nhìn nó như gặp lại người thân bấy lâu xa cách của mình.” Tôi đánh dấu vào mép trang rồi đọc tiếp. Mấy hôm sau mở sách ra, mắt tôi lại dừng đúng chỗ ấy. Có điều gì đó xảy ra trong khoảnh khắc đó mà tôi muốn nói cho rõ hơn. Một ổ bánh mì vốn là chuyện rất nhỏ. Trong bảy trăm trang sách còn biết bao chuyện lớn hơn. Thế nhưng chính chi tiết này lại ở lại lâu nhất — ở lại trong trang sách sau khi tôi đã đọc qua, rồi ở lại trong ký ức tôi sau khi đã gấp sách lại. Và chính cái cách nó ở lại ấy là điều tôi muốn gọi bằng nhan đề bài viết này.
 

Lịch sử không giữ lại ổ bánh mì theo cách mà văn chương giữ lại nó. Khi đi qua lịch sử, những chi tiết như thế thường được đặt vào những phạm vi rộng hơn: thiếu thốn vật chất thời hậu chiến, sự khác biệt văn hóa Nam Bắc, chấn thương tâm lý của người tù cải tạo. Những cách nhìn ấy đều có giá trị của chúng. Chúng giúp người đọc thấy được bối cảnh lớn hơn mà chi tiết đang nằm trong đó. Tuy vậy, càng nghĩ về đoạn văn này, tôi càng thấy có một điều gì đó vẫn còn ở bên ngoài những phạm vi ấy. Đó là cái nhìn của Hảo khi nhìn ổ bánh mì. Cái nhìn của người đàn ông cụ thể này, vào buổi chiều cụ thể, sau những năm tháng mà chỉ riêng anh đã sống qua.

Khi mắt tôi dừng lại ở đoạn ấy lần thứ hai —không chủ đích — tôi bắt đầu nghĩ đến một khả năng khác. Có thể ký ức người đọc cũng vận hành theo một cách tương tự ký ức nhân vật. Hảo nhìn ổ bánh mì và nhận ra một điều gì đó vượt khỏi chính ổ bánh mì. Tôi đọc câu văn ấy rồi quay lại với nó nhiều ngày sau. Cảm giác ấy khó giải thích. Giống như có một điểm nào đó trên trang sách giữ lại lực hút riêng của nó. Điều gì xảy ra trong quá trình ấy, tôi không chắc mình hiểu hết. Nhưng dường như có một thứ được truyền đi từ kinh nghiệm sống, qua câu văn, đến người đọc mà không cần đi ngang qua nhiều tầng giải thích.

Cũng như mùi hoa xoan trong buổi sáng đầu tiên trên đất Bắc, như hũ dưa cải được gửi từ quê nhà, như người cha già lặn lội đi thăm con sau nhiều năm xa cách:  Mỗi chi tiết đều mang một đời sống riêng. Khi đọc chúng, tôi thường có cảm giác mình đang đứng trước một điều gì đó rất khó thay thế. Chỉ cần dịch nó lên một tầng khái quát hơn, một phần nào đó của nó bắt đầu nhạt đi. Có lẽ vì vậy mà những chi tiết ấy vẫn còn ở lại rất lâu sau khi câu chuyện đã đi qua những trang khác.
 

Vì quen biết Lê Lạc Giao ngoài đời nên tôi đọc cuốn sách theo một cách khác. Tôi biết nhiều nhân vật trong sách không xuất hiện từ trí tưởng tượng đơn thuần. Phía sau họ thường có một con người thật, một cuộc đời thật, một cuộc gặp thật nào đó. Điều ấy tạo cho tác phẩm một sức nặng riêng. Khi đọc, tôi nhiều lần có cảm giác người viết đang mang theo ký ức của những người đã từng ngồi trước mặt mình kể chuyện. Họ không hiện ra như tư liệu. Họ hiện ra như những con người mà sự hiện diện của họ đã để lại một món nợ ký ức nào đó trong người kể.

Những diễn giải về chiến tranh Việt Nam và hậu chiến sẽ tiếp tục thay đổi. Mỗi thế hệ sẽ đọc lại giai đoạn này theo ngữ cảnh mới. Những cách gọi tên, những đánh giá chính trị rồi cũng sẽ thay đổi. Nhưng có những thứ không thể thay đổi được bởi bất kỳ diễn giải nào, vì chúng tồn tại ở một tầng trước khi diễn giải đặt tên. Đình ngồi dưới gốc bã đậu nhìn về hướng Sài Gòn không cần ai diễn giải để tồn tại. Hảo nghe giọng Nghệ An khô khốc và hình dung ra một cái gì đó khô cằn, quắt queo trong đầu; chi tiết ấy tự mang theo sức nặng của nó. Ba Răng vàng cảnh báo nhóm tù mới về việc liên lạc với nhau, vào buổi trưa đó, trên con đường xuống bếp. Câu nói ấy ở lại như dấu vết của một người, một giọng nói, một hoàn cảnh.

Chữ “hấp thụ” trong tiêu đề “Ký Ức chống lại sự hấp thụ của Lịch Sử” đến với tôi khá muộn, sau khi đọc xong sách nhiều ngày. Tôi dùng nó theo một nghĩa rất giản dị. Lịch sử cần khái quát hóa để có thể trở thành lịch sử. Nó cần những mô thức, những phạm trù, những đường nét lớn. Nhờ vậy mà người đọc có thể nhìn thấy cả một thời kỳ. Nhưng trong quá trình ấy, những gì chỉ xảy ra một lần, với một con người cụ thể, thường khó giữ nguyên hình dạng ban đầu của nó. Chúng không mất đi mà sống dưới một tên gọi rộng hơn chính mình.
 

Đó là di sản của Tổ Quốc Trăm Năm. Những con người được giữ lại trong tính cụ thể không thể thay thế của họ, trước khi lịch sử kịp đồng hóa họ vào một danh mục. Lê Lạc Giao viết về giai đoạn này như người đã ngồi nghe — một nhân chứng của một thời điêu linh nghe những người thật kể về những năm tháng thật, rồi cúi xuống nhặt lại từng chi tiết nhỏ trước khi chúng biến mất. Ông không cần lớn tiếng với lịch sử. Có lẽ chỉ cần giữ cho những chi tiết ấy chưa mất đi quá nhanh vào trường khái niệm cũng đã là một việc rất khó.

Bởi vậy, nếu phải nói điều gì làm Tổ Quốc Trăm Năm đứng riêng trong số rất nhiều tác phẩm viết về cùng một giai đoạn, tôi nghĩ câu trả lời không nằm ở tư liệu, ở quan điểm. Điều còn ở lại sau khi gấp sách — ít nhất đối với tôi — là cảm giác vừa gặp thêm vài con người mà lẽ ra mình đã không bao giờ có cơ hội gặp. Họ bước ra từ những trang sách với đầy đủ những vui buồn, chờ đợi, thương nhớ và giới hạn của một đời người. Rồi họ ở lại đâu đó trong ký ức người đọc — theo cách một ổ bánh mì ở lại, theo cách mắt người đọc dừng lại ở một trang sách mấy hôm sau mà không biết tại sao.

 

Tô Đăng Khoa

blank



Đọc Trịnh Y Thư là đọc một nghệ thuật viết tiểu thuyết vừa siêu hình vừa hiện thực. Nó thực thực hư hư đầy bất ngờ ở những bước ngoặt tình tiết. Độc giả thoạt thấy câu chuyện là như vầy, nhưng đoạn sau nó lại mở ra một cảnh mới, nhân vật cũ mà cảnh thì khác. Lối sắp xếp câu chuyện, dàn cảnh như trong phim trường. Tác giả dẫn dắt khán giả như đang xem một cuốn phim mà nhà đạo diễn đổi cảnh quay, đổi đề tài, đổi tâm tính mà vẫn luôn giữ khán giả ở lại với nhân vật của truyện, của con người Việt Nam trong suốt ba cuộc bể dâu...
“ VÀ EM, LỄ KHẤN DÒNG” ( VE,LKD) là thi phẩm thứ 24 của nhà thơ Lê Đình Bảng, sau 23 tác phẩm đã xuất bản gồm các sách Giảng văn, Giáo trình sách giáo khoa, Thơ, Văn, Bút ký... xuất bản từ năm 1962 ở Sài Gòn và hải ngoại cho đến nay. Sách dày 110 trang gồm 63 bài thơ và lời giới thiệu của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc, do nhà Xuất bản Tuổi Hoa Publishing, Hoa Kỳ ấn hành tháng 8 năm 2024, với tranh bìa của họa sĩ Nguyễn Hà và ký họa chân dung tác giả của họa sĩ Chóe.
Hiếm có một tiểu thuyết như Đường về thủy phủ của Trịnh Y Thư. Không phải là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhưng lại làm người đọc phải bâng khuâng nghĩ về những chặng đường đã trải qua của dân tộc. Không phải là một tiểu thuyết diễm tình, nhưng lòng độc giả sẽ chùng xuống khi khép trang sách lại và ngậm ngùi cho những mối tình tan vỡ. Bạn có thể đọc xong, tuần sau đọc lại, vẫn còn thấy có những gì như cần đọc nữa. Chữ của Trịnh Y Thư như dường không cũ tí nào, vì nó luôn luôn gợi tới những gì sâu thẳm trong tim mỗi người, những ước mơ về một mối tình rất mực kỳ ngộ, rất mực dị thường.
“Ở Phía Đông Âm Phủ” là một trong hai truyện tạo thành tập truyện có cùng tựa đề “Ở Phía Đông Âm Phủ” của nhà văn Nguyễn Viện. Sách dày 184 trang do Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2024. Ở âm phủ, dĩ nhiên, để bị trừng phạt và đền tội, nếu vậy, ngụ ý của tác giả là tội gì, đối với các nhân vật trong truyện, những lãnh tụ có thật đưa vào hư cấu, mang máu lịch sử, tạo ra những khúc quanh lớn cho dân tộc, chôn hàng hà sa số xương thịt của người dân, dù có ý định tốt đẹp? Đối với lãnh đạo, lý tưởng và hành động là hai bạn đồng hành, nếu họ yêu nhau, chuyện tốt đẹp sẽ xảy ra; nếu họ phản bội nhau, chuyện xấu xa sẽ xuất hiện sau mặt nạ son phấn của tuyên truyền.
Sách mới "Ở PHÍA ĐÔNG ÂM PHỦ" của Nguyễn Viện, do NXB Tiếng Quê Hương (Mỹ) ấn hành, 2024. Gồm 2 truyện kịch: VÀ, HẮN ĐÃ ĐẾN & Ở PHÍA ĐÔNG ÂM PHỦ. Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng nhận định: “Ở phía đông âm phủ” độc đáo ở chỗ tác giả không miêu tả trực tiếp nhân vật, mà để cho họ nói năng như trên sân khấu, như trong một vở kịch. Hình thức tiểu thuyết - kịch rất hiếm trong văn học Việt Nam… Những quan sát của anh sắc bén, và trong một ngôn ngữ đẹp, giản dị, tinh tế, dí dỏm, tôi thiết nghĩ anh đã thành công trong việc đánh thức ý thức lịch sử và xúc cảm cá nhân nơi người đọc. Nhà nghiên cứu lý luận Ngu Yên đúc kết: Trên con đường văn chương Việt, Nguyễn Viện trở thành một trong số ít nhà văn phiêu lưu, dọ dẫm vào miền văn học lạ lẫm.
Kề từ khi bệnh tật tận tình thăm hỏi, Khánh Trường đã cho ra đời: Truyện ngắn Khánh Trường (2016), Chuyện Bao Đồng (tạp bút, 2018) và các tiểu thuyết: Tịch Dương (2019), Dấu Khói Tàn Tro (2020), Bãi Sậy Chân Cầu (2020), Có Kẻ Cuồng Điên Khóc (2020), Xuyên Giấc Chiêm Bao (2021), Đừng Theo Dông Bão (2021). Nắng Qua Đèo (2021), Năm Tháng Buồn Thiu (2023), Cùng Nhau Đất Trời (2024) và cuối cùng là tập Thơ Khánh Trường (2024). Số tác phẩm đồ sộ này, ít ai, kể cả những tác giả sung sức nhất, làm nổi. Đúng là…kỳ vĩ! Cuốn “Cùng Nhau Đất Trời” này có chút khác với các cuốn trước vì tác giả ghi ngay ngoài bìa sách là “du ký tiểu thuyết”. Chuyện mới à! Mới nhưng truyện của Khánh Trường chằng bao giờ thoát ra khỏi tình. “Cùng Nhau Đất Trời” cũng vậy, đây là một truyện tình. Nhân vật chính không còn trẻ, đã 38 tuổi, chưa chồng con. Ông bố sốt ruột: “Cô tưởng cô còn trẻ lắm sao? Kén cá chọn canh mãi, mai mốt thành gái già, hối không kịp”.
Nhận được cuốn tiểu thuyết Đường về thủy phủ của nhà văn Trinh Y Thư, nghiền ngẫm đọc mấy hôm và suy nghĩ viết đôi lời cảm nhận cho tác phẩm của ông...
Tôi đã đọc bản thảo “Dòng Đời” khá là chậm. Đôi khi tôi đọc lại môt số đoạn, một số trang. Khi đọc lại toàn văn bản thảo lần thứ nhì, tôi lấy giấy ra ghi chú về các nhân vật, các mốc thời gian, những chuyển biến khi các nhân vật dời đổi từ bên dòng sông này qua thị trấn miền núi kia. Tất cả như một cuốn phim về một quê nhà đang tìm hướng đi trong thời kỳ hậu thực dân Pháp, nơi lối rẽ của tranh chấp để con sông trở thành đôi bờ và rồi người lái đò (trong tiểu thuyết này là người có tên là ông Ba Đò) trở thành người hai mặt, bị buộc cung cấp tin cho cả hai lực lượng thuộc hai ý thức hệ khác nhau.
Ngôn Ngữ đặc biệt về “tác giả tác phẩm”, cuốn này hân hạnh được giới thiệu đến quý bạn đọc, một cây bút tài danh đã viết và thành công trong hầu hết trong nhiều bộ môn văn học nghệ thuật qua bốn thập niên. Tác giả đó là nhà văn Trịnh Y Thư. Ông tên thật Trịnh Ngọc Minh, sinh ngày 11 tháng 2 năm 1952 tại Hà Nội, trưởng thành tại Sài Gòn, du học và hành nghề điện tử viễn thông tại Hoa Kỳ cho đến khi hưu trí vào năm 2018. Như đã thượng dẫn, Trịnh Y Thư là một người đa tài, chúng tôi xin giới thiệu đại khái về từng bộ môn ông đã sinh hoạt. Trong bộ môn văn, ông đã viết và phổ biến rộng qua sách in từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện dịch, khảo cứu, nhận định văn học, tùy bút, tạp bút, tạp luận. Với bộ môn thi ca, ông có một số ít bài theo phong cách vần điệu nhưng không cùn mòn. Chúng tôi nghĩ ông rất hứng thú và chuyên về trường ca, hoặc những bài viết có số lượng câu không quá ngắn hoặc quá dài, và ông cũng sử dụng cả lối thơ Hokku với chỉ 3 câu cho từng khổ.
Trong số truyện ngắn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trong tập truyện Gìn Vàng Giữ Ngọc có lẽ là tác phẩm được độc giả nhắc đến nhiều nhất. Dựa trên câu chuyện cơ cực có thật của chính gia đình mình trong thời toàn quốc kháng chiến chống Pháp, Doãn Quốc Sỹ đã kể lại với một cách nhìn nhân bản, kết thúc với đoạn văn được những người hâm mộ trích lại nhiều nhất: “…Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn; ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành…”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.