Hôm nay,  

Baltimore Với Cảng Inner Harbor

9/9/202207:13:00(View: 6011)

travel

 

      Chiều nay, chúng tôi rời Thủ đô Washington D.C. (Hoa Thịnh Đốn) để tiếp tục đi chơi vùng miền Đông Hoa Kỳ (East coast). Từ Washington D.C, chúng tôi lấy xa lộ 95 hướng Bắc (Highway 95 North) thẳng tiến về thành phố Baltimore thuộc tiểu bang Maryland. Thành phố này không xa Thủ đô là bao, chỉ cần hơn một tiếng lái xe.

      Baltimore, nằm ngay trên bờ vịnh Chesapeake Bay thuộc bờ biển Đại Tây Dương, có dân số khoảng 700.000 người. Đó là thành phố, cũng là trung tâm công nghiệp và văn hóa lớn nhất của tiểu bang Maryland. Trong thời gian đầu lập quốc, Baltimore đã từng là một trong ba hải cảng lớn nhất của Hoa Kỳ và nó cũng đã từng đóng góp một phần vô cùng quan trọng trong ngành ngoại thương và phát triển kinh tế cho xứ sở này.

                              

     Lái xe qua phi trường Baltimore và hướng về bến cảng Inner Harbor, chúng tôi chỉ mất thêm một thời gian ngắn nữa là đã tới nơi đấy.

      Inner Harbor, một chiều thêu nắng. Quang cảnh ở đây vừa nhộn nhịp và cũng vừa thanh bình. Trên đường phố, tuy xe cộ qua lại thật đông đúc nhưng sự trật tự và tôn trọng luật lệ giao thông dành quyền ưu tiên cho người đi bộ đã tự tạo được cảm giác an toàn cho những du khách đang dạo chơi nơi này.

      Dọc theo bờ vịnh là những quán ăn đông người. Tiếng nhạc nhẹ nhàng chứ không ồn ào từ những quán ăn ấy vọng ra. Sát ngay bờ vịnh là một con đường lát gạch rộng rãi và dài chừng hơn một cây số để mọi người có thể tản bộ hoặc ngồi trên ghế đá nhìn trời mây nước, nghe sóng biển vỗ rì rào. Người ta cũng có thể   ngồi nhâm nhi cốc cà phê ở quán nhỏ bên đường, hay dừng chân nghe một ban nhạc nhỏ (band) với vài ba nhạc công tài tử giúp vui du khách, hoặc đứng coi vài anh làm xiếc kiểu “mãi võ Sơn Đông” đang “làm trò” như ở quê nhà. Những bồn hoa mầu sặc sỡ đặt dọc theo lề đường gạch tô điểm cho vẻ đẹp của khu phố biển.

      Chúng tôi đi lững thững trên con đường lát gạch ấy để hưởng lây cái vui của mọi người, cái thanh bình của cảnh vật và hít gió biển trong mát.

      Sau khi tản bộ một vòng, chúng tôi xuống một chiếc “thuyền máy” được gọi là “water taxi”, một phương tiện chuyên chở của thành phố. Mỗi chuyến thuyền máy có thể chở được khoảng 20 người.

      Khi thuyền vừa rời bến, một khoảng trời mênh mông như được mở rộng ra. Tôi nhìn lên bầu trời cao, những đám mây bàng bạc lơ lửng bay trên ấy. Sóng nước bắt đầu đánh mạnh hơn ở hai bên hông thuyền làm thuyền hơi chòng chành trước khi lấy lại thăng bằng.

       Nhìn trở lại thành phố, tôi thấy trọn vẹn hình ảnh của bến tầu, người đi kẻ lại với mọi sinh hoạt nhộn nhịp trên ấy. Thuyền đi dọc theo bờ vịnh, tôi có cơ hội để quan sát cảnh trí cũng như những kiến trúc của thành phố. Những cao ốc cổ xưa xen lẫn những cao ốc mới. Chúng tôi vừa nhận ra có một chiếc tầu “tiềm thủy đĩnh” (submarine) loại nhỏ, chắc đã không còn hoạt động, đậu trên bến đang đón du khách xuống xem.

      “Bác” tài công già, râu ria rậm rạp, luôn vừa điều khiển chiếc thuyền vừa kể cho hành khách nghe về một vài câu chuyện liên quan tới thành phố Baltimore này như một hướng dẫn viên du lịch “dễ dãi”, nghĩa là “bác” muốn nói thì nói, muốn ngưng thì ngưng, muốn chuyển đề tài bất cứ lúc nào cũng được, tuy nhiên lúc nào “bác” cũng tỏ ra hăng say với câu chuyện mình đang kể. Tôi nhìn “bác” cười duyên, “bác” gật đầu với tôi rồi cũng cười duyên lại. Đúng là hai cái cười thuộc loại cười để mà cười, cười chỉ để “hở mười cái răng” vô nghĩa. Tự nhiên tôi thấy có cảm tình với “bác” và tất nhiên là tôi sẽ không quên dúi vào tay “bác” tiền “tip” khi chúng tôi rời thuyền.

      Từ trên thuyền tôi có dịp phóng tầm mắt quan sát những cảnh vật xung quanh. Một số nhà máy nằm sát ngay bở vịnh, tôi tin là chúng đã được xây dựng từ thời đầu lập quốc. Chúng đã đổ nát hay hư hỏng toàn bộ hoặc từng phần, đang đứng soi bóng im lìm trên sóng nước, lặng nhìn dòng thời gian cứ lờ lững, bình thản trôi đi. Chúng như đang nhớ lại một thời oanh liệt đã qua, mà thời oanh liệt đó đang bị đẩy lùi sâu vào quá khứ xa xưa một cách hối hả bởi sự tiến bộ quá nhanh của nền công nghiệp tân tiến hiện đại ngày nay đang ào ạt tiến tới. Nhưng có cái hay là cái mới đã không phủ lấp hình ảnh của cái cũ, cái của quá khứ. Những ngôi nhà máy cũ kỹ kia, qua những hình ảnh kiến trúc đổ nát của nó, đã gợi nhớ lại cho hậu thế biết bao nhiêu những cảm nhận cũng như ý thức được: - về một giai đoạn lịch sử của thời lập quốc; - về sự thiết lập được một nền tảng kinh tế vững vàng trong khó khăn cho một dân tộc non trẻ lúc đó, tạo sức bật tiến lên trong tương lai. Và để rồi, chỉ cần khoảng 200 năm sau, dân tộc đó đã trở thành một cường quốc kinh tế hùng mạnh nhất thế gìới.

      Trên những kiến trúc gạch đỏ đổ nát ấy, thỉnh thoảng tôi vẫn còn thấy được bảng hiệu của cơ xưởng cũ cùng những năm xây dựng chúng. Tôi nghĩ những cơ xưởng này đã được chính quyền địa phương bảo quản và giữ nguyên trạng để chúng được đánh giá như những chứng tích của thời đại mà chúng được xây dựng nên. Điều này làm tôi nhớ lại một số di tích cổ xưa trên đất nước ta, ngày nay đang được “tô son trét phấn” để phục vụ cho ngành du lịch, đã biến chúng thành những anh “hề già”. Sự khác nhau này phải chăng đã phát xuất từ những khác biệt về ý thức, hiểu biết, lẫn tấm lòng thành kính dành cho người xưa?  Gìn giữ và phục hồi di tích cổ không có nghĩa là phải “hiện đại hóa”, phá hủy từng phần hoặc toàn bộ cái nét đẹp văn hóa cổ xưa, làm mất đi cái giá trị lịch sử, kỹ thuật, mỹ thuật của thời đại chúng đã được xây dựng nên. Làm như thế nó còn mang tính cách lường gạt lịch sử nữa.     

      Những con chim hải âu trắng bay lượn quanh thuyền xin ăn. Xa xa, một nhà máy đường cũ kỹ mang tên “Domino Sugar” vẫn còn đang hoạt động. Những đám khói tỏa trên ống khói gạch đỏ cao ngất của nhà máy đó làm tôi nhớ tới nhà máy nhiệt điện Chợ Quán năm nào, nơi tôi đã từng trải gần 10 năm làm việc tại đó với bao nỗi nhớ thương. Nhà máy Nhiệt điện Chợ Quán có lịch sử trăm năm đó nay không còn nữa. Nó đã biến mất để nhường chỗ cho những cao ốc mọc lên thay thế. Một chút ngậm ngùi. Người thì như thế này, mình thì như thế ấy.

      Khoảng 30 phút trên thuyền, chúng tôi đổ bến trên một phần đất khác của thành phố cảng Baltimore. Trên bờ, ngay tại bến, có nhiều hàng ăn của người Á châu như Nhật, Tầu, Thái nhưng lại không có quán ăn của người Việt Nam. Tôi biết những món ăn Việt Nam, ngày nay đã trở nên quen thuộc đối với người dân địa phương ở nhiều thành phố lớn của Hoa Kỳ. Riêng nơi đây thì nó còn vắng bóng.       

      Một chiếc tầu buồm nhỏ đậu ngay bên bến mang tên “Murder Mystery Cruise”, một tầu mang cờ hải tặc, có biển đề giá 45 đô-la cho một bữa ăn tối. Ăn một “dinner” trên một chiếc du thuyền chạy quanh trong vịnh thì quả thực giá này cũng thuộc loại “bình dân đại chúng”.

      Chúng tôi đi dạo chơi loanh quanh vài khu phố rồi trở lại bến “water taxi” để đi thuyền máy trở về bến Inner Harbor lúc ban đầu.

      Trời đã ngả chiều tối, ánh đèn điện bên đường đã bắt đầu bật sáng. Sinh hoạt trên phố cũng đã thay đổi theo, có nơi đông lên, cũng có nơi vắng bớt người đi.

      Lên bờ, chúng tôi băng qua đường để vào một khu siêu thị “Gallery Shopping Center” khang trang và đẹp đẽ ngay đấy. Khu siêu thị này là một tòa nhà bốn tầng. Cũng như mọi siêu thị tiêu biểu khác trên nước Mỹ, ở đây có rất nhiều gian hàng với danh hiệu nổi tiếng trên thế giới.

      Lang thang trong siêu thị cả giờ đồng hồ nhưng chúng tôi chỉ xem chứ không mua sắm gì. Trước khi rời khỏi khu siêu thị chúng tôi không quên chụp vài tấm hình kỷ niệm bên cái hồ nước chạy dài ngay cửa vào. Hồ nước có nước phun và hoa tươi được trồng chung quanh làm tăng thêm vẻ tráng lệ, rực rỡ cho khu siêu thị này.

      Chúng tôi tới khu ăn uống “Food court” không xa.  Khu ăn uống này chiếm một diện tích lớn. Nơi đây thật ồn ào náo nhiệt. Các cửa hàng ăn được sáng rực bởi những đèn bảng hiệu hay quảng cáo. Kẻ ngồi ăn, kẻ đứng xếp hàng chờ đợi, người đi lại tìm hàng ăn hợp với khẩu vị của mình. Thôi thì đủ loại thức ăn “quốc tế”.

      Chúng tôi đến khu gian hàng ăn Á châu, lại nào là những hàng ăn Tầu, hàng ăn Nhật, hàng ăn Thái, có cả hàng ăn Mã Lai và Nam Dương nữa, nhưng sao vẫn chưa thấy hàng ăn Việt Nam làm chúng tôi hơi ngạc nhiên.

      À đây rồi, có thế chứ, một tiệm Phở. Nhưng hỡi ôi! đây chỉ là một tiệm Phở của người Tầu chứ không phải của người Việt vì từ cách trưng bầy cửa hiệu cho tới người phục vụ bên trong nhà hàng đều mang sắc thái mà thực khách nhận biết ra ngay đó là “Phở Tầu” dù là trên bảng hiệu có chữ “Phở” rất to và rất Việt Nam. Chúng tôi tủm tỉm cười về cái cửa tiệm “phở mạo hóa” này.

      Chúng tôi chọn một cửa hàng thức ăn biển “Sea Food” thuộc loại “ăn no mới về” hay “ăn bao bụng” (all you can eat). Cửa hàng đông quá, không đủ chỗ ngồi. Sau khi mua “vé”, cô bán hàng trẻ và xinh đẹp người Mỹ đưa cho chúng tôi một cái “máy gọi” (beeper). Khi nào “máy gọi” bật sáng và rung lên là báo cho khách hàng biết đã có chỗ ngồi cho mình. Sau nửa tiếng chờ đợi, chúng tôi đã có chỗ ngồi. Những món ăn hải sản rất nhiều, thực khách được tự do lấy cho mình bất cứ món nào và bao nhiêu cũng được. Riêng món càng cua “king crab” thì có người phục vụ, mỗi lần thực khách chỉ được “serve” có 3 cái càng cua dài đặt trong một cái đĩa riêng. Muốn ăn thêm thì phải quay lại lấy lần thứ hai. Người Mỹ họ ăn uống không phí phạm nên ít khi thấy họ để đồ ăn còn dư thừa trên đĩa. Họ chỉ lấy thức ăn cho vừa đủ ăn mà thôi. Giá cả phải chăng, 19,95 đô la cho một người. Với giá này thì thực khách không thể ăn “king crab” một cách thả dàn và phí phạm được.

            Chúng tôi không có gì phải hối hả hay bận tâm tới thời gian. Chút nữa đây, chúng tôi sẽ rời khỏi nơi này để tới một thị trấn nào đó trên lộ trình, ghé vào thuê một phòng ngủ cho đêm nay. Ngày mai sẽ lại tiếp tục lên đường.

      Sau khi rời khỏi khu ăn uống thì trời đã tối hẳn, chúng tôi trở ngược lại khu bến tầu tản bộ và cứ dọc theo bờ biển mà đi trên con đường lát gạch, nhìn trăng sao và nghe sóng biển vỗ bờ. Gió biển mát và thổi nhẹ làm chúng tôi có cảm giác thật khoan khoái. Có vài chỗ trên bến cảng, sóng vỗ vào bờ vách bê-tông đang nhẹ tung bọt lên trắng xoá. Xa xa, vài con thuyền với những ánh đèn leo lắt, ẩn hiện. Tôi ngồi trên ghế đá trầm ngâm nhớ về một biến cố lịch sử đã từng xẩy ra ở nơi đây: bài Quốc ca Hoa Kỳ ra đời.

Khi đến thành phố Baltimore nằm bên vịnh Chesapeake Bay này, người ta không thể không nhớ tới một câu chuyện lịch sử khá lý thú trong thời kỳ lập quốc. Một cuộc chiến oai hùng và anh dũng của người Hoa Kỳ với quân Anh đã xẩy ra nơi này làm rung động trái tim của luật sư Francis Scott Key được thể hiện bằng bài thơ “Star Spangled Banner” (Lá cờ ánh sao chói lọi) của ông. Qua bài thơ này, nó cũng đã từng làm rung động hàng triệu con tim công dân Hoa Kỳ, và để rồi, bài thơ ấy đã trở thành lời ca của bài Quốc ca Hoa Kỳ cho tới ngày hôm nay.

      Để nhớ về biến cố lịch sử ấy, tôi cũng xin nhắc lại là vào mùa hè năm 1814, đoàn tầu chiến gồm 800 chiếc của Anh tiến vào vịnh Chesapeake Bay, so với 18 chiếc của Hoa Kỳ. Một nhóm chiến thuyền Anh do Tướng Ross chỉ huy tiến thẳng vào Washington D.C. đốt cháy một số công thự chính quyền, rồi nhóm binh sĩ này rút quân trở lại chiến thuyền của họ. Một số nhỏ binh lính bị thương người Anh đi lạc bị bỏ rơi lại đằng sau đơn vị. Một trong những nhóm bị lọt lại này, có một nhóm gồm ba thương binh đi lạc đến thành phố Upper Marlboro, cách Thủ đô Washington khoảng mười lăm dặm. Trong khi đó, một chuyện đáng buồn cười xẩy ra, tin tức sai lạc được loan truyền trong thành phố là quân Anh bị đánh bại ở Washington. Thế là cả thành phố Marlboro ăn mừng và liền bắt ngay ba anh chàng lính Anh bị thương này đang đi xin ăn bỏ vào tù. Người cầm đầu vụ này không ai khác hơn là bác sĩ William Beanes.

      Khi quân Anh biết được sự kiện trên xẩy ra, tức giận, liền bắt ngay bác sĩ Beanes nhốt trên chiến thuyền của họ.

      Bác sĩ Beanes là người nổi tiếng và được nhiều người kính trọng nên một số bạn bè của ông vận động cho ông được trả tự do. Một trong số bạn bè vận động cho ông có Francis Scott Key, một luật sư nổi tiếng đang hành nghề ở Thủ đô Washington trong thời gian đó. Key được sự chấp thuận của Tổng thống Hoa Kỳ là Madison cho phép sang thương thảo với quân Anh để đòi trả tự do cho bác sĩ Beanes. Cùng đi với Key còn có John S. Skinner đặc trách về trao đổi tù binh của Hoa Kỳ (United States Agent for the Exchange of Prisoner).

      Key và Skinner được tiếp đón tử tế trên chiến thuyền Anh, nhưng lại thất bại trong việc thương thảo để giải cứu Beanes. Người Anh cho rằng bác sĩ Beanes cần phải được trừng trị vì đã vi phạm luật chiến tranh. Tuy nhiên, những báo cáo tiếp theo được gửi về Bộ chỉ huy của Anh đã chứng minh rằng những nhóm lính Anh bị thương khác, bị lọt lại phía sau, được người Hoa Kỳ đối xử tử tế. Với những báo cáo đó, cuối cùng Đô đốc Cockburn đồng ý thả bác sĩ Beanes (Đô đốc Cockburn: xin đọc bài “Cưỡi Ngựa Xem Hoa - Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn”).       

Trong mấy ngày thương thảo trên chiến thuyền Royal Oak của Đô đốc, Key và Skinner đã quen biết vài người sĩ quan trên chiến thuyền đó và được biết họ đang chuẩn bị tấn công thành Fort McHenry của Hoa Kỳ, nằm ngay phía dưới thành phố Baltimore. Để tránh kế hoạch bị tiết lộ nên quân Anh giữ ba người Hoa Kỳ trên tầu chiến, chưa cho họ xuống đất liền. Key, Skinner và Beanes cả ba được chuyển trở lại chiếc thuyền nhỏ mà họ đã dùng để đến đây và họ được canh giữ nghiêm ngặt. Cả ba người Hoa Kỳ này ngồi trên chiếc thuyền nhỏ của mình, họ có thể nhìn thấy thật rõ ràng lá cờ Hoa Kỳ đang bay phất phới trên thành Fort McHenry. 

      Đêm 13 tháng 9 năm 1814, cuộc tấn công bắt đầu. Trong đêm tối, mỗi khi những ánh sáng của súng đạn loé sáng lên, ba người vẫn có thể nhìn thấy lờ mờ lá cờ trên thành Fort McHenry còn phất phới bay. Cuộc tấn công kéo dài tới tờ mờ sáng. Ba người hồi hộp chờ đợi kết quả trận đánh đêm qua. Họ biết nếu ngọn cờ còn phất phới bay trên thành thì có nghĩa là thành còn đứng vững, và nếu lá cờ bị hạ xuống, nghĩa là thành đã thất thủ.

      Ba người hồi hộp ... và hồi hộp chờ đợi.

      Cả ba cùng reo lên vui mừng khi ánh sáng sớm ban mai vừa ló rạng thì họ nhận ra ngay lá cờ Hoa Kỳ to lớn vẫn còn phất phới bay trên thành Fort McHenry.

       Quân Anh nhận thấy không thể hạ nổi thành nên đành rút lui và rời khỏi vịnh. Key viết ngay lời mở đầu cho bài thơ “Star Spangled Banner” của ông trên mặt trái của phong bì thư trong buổi sáng sớm hôm đó trên con đường trở lại bờ. Trong bài thơ, Key diễn tả lại tất cả những gì ông ta thấy với những cảm xúc khi ông nhìn thấy lá cờ Hoa Kỳ vẫn còn tung bay trên thành Fort McHenry vào sáng sớm tinh mơ hôm đó. Key đã hoàn tất bài thơ này khi về tới khách sạn ở Baltimore.

       Ngày hôm sau, Key đưa bài thơ cho Chánh án Nicholson đọc. Nicholson quá xúc động khi đọc bài thơ này của Key nên ông đã vội vã cho in ra để truyền bá trong dân chúng. Bài thơ được phổ nhạc theo giai điệu một bài hát cổ của hội uống rượu người Anh là To Anacreon in Heaven, và được trình diễn lần đầu tiên tại Nhà hát Thành phố Baltimore. Bài hát nhanh chóng được truyền bá.

      Vì quá phổ biến nên tới những năm đầu của thế kỷ 20, lời ca được thay đổi tới hàng chục bản khác nhau. Nhiều đến nỗi vào năm 1916, Tổng thống Woodrow Wilson phải yêu cầu Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đưa ra một bản chính thức. Bài hát sau khi chuẩn hóa được trình diễn lần đầu tiên ở Carnegie Hall vào năm 1917.

       Thật muộn màng bởi những tranh cãi, mãi đến năm 1931 bài hát mới chính thức trở thành bài Quốc ca Hoa Kỳ dưới một đạo luật của Quốc hội do Tổng thống Herbert Hoover ký.

 

      Baltimore là một thành phố lớn từ thời lập quốc nên những sự kiện lịch sử trong thời gian ban đầu ấy của nó không phải ít. Nhưng cuộc hành trình “cưỡi ngựa xem hoa” của chúng tôi chỉ cho phép chúng tôi biết được có thế. Thôi thì cũng đành, tôi xin tự hẹn có dịp nào quay lại lần nữa để tìm hiểu thêm về nó.

      Chúng tôi rời Baltimore với chút gì lưu luyến trong lòng. Và những ngày kế tiếp, chúng tôi biết cuộc hành trình đi thăm Miền đông Hoa Kỳ còn dài và còn nhiều điều thú vị đang chờ đón chúng tôi.

      Trong lúc lái xe, tôi đưa một bàn tay nắm lấy bàn tay nhà tôi siết nhẹ như để gửi đến “nàng” một lời yêu thương. Tôi nhìn nàng mỉm cười. Nhà tôi cũng nhìn tôi mỉm cười đáp lại và không quên “dúi” vào miệng tôi một chiếc “kẹo chua”, loại kẹo có vị quá chua làm “tài xế” phải tỉnh ngủ và phải tỉnh cả người.      

      Ánh đèn cảng Inner Harbor của thành phố Baltimore đang dần lùi về phía sau.
      Tôi vẫy tay tạm biệt Inner Harbor.
 

Nguyễn Giụ Hùng

 

 

Ghi chú:

 

Những dữ kiện lịch sử trong bài này được người viết sưu tầm, chọn lọc và dịch hoặc phỏng dịch từ những nguồn sử liệu Hoa Kỳ.

 

Nguyễn Ngọc Ngạn là một hiện tượng trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của cộng đồng người Việt hải ngoại...
Vào một ngày bão tuyết mù mịt ở miền đông năm 2009, tôi viết bài thơ BÂY GIỜ, ghi lại một đoạn đương 10 năm gian nan vất vả ở quê người và nỗi nhớ quê hương. Bây giờ ngồi nhớ Việt Nam. Bên trời tuyết lạnh hai hàng lệ rơi. Nhờ duyên lành, bài thơ đã trở thành ca khúc BÊN TRỜI TUYẾT LẠNH qua những nốt nhạc tài hoa của nhạc sĩ Vĩnh Điện.
Tiếng hát của Duy Trác vang ra từ những chiếc rađiô. Trời khô ráo, mát dịu. Bầu không khí đêm Noel ở Sàigòn thật là vui vẻ, nhộn nhịp. Thánh đường vang lên những lời kinh cầu, chào đón Chúa ra đời, lòng người lắng xuống, nhẹ nhàng, thư giãn. Ấy thế mà đã có một đêm Noel hết sức căng thẳng đối với tôi và một anh bạn. Kim đồng hồ chỉ 10 giờ 15 phút rồi mà chưa thấy anh ấy đâu. Tôi rất hồi hôp. Anh bạn hẹn ghé đón tôi lúc 10 giờ đêm ở Bàn Cờ rồi cùng nhau tới Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế, ở đó Ca đoàn đang nóng lòng chờ đợi.
Lúc còn nhỏ, đi theo bà dì và ông cậu xem cải lương. Tôi đã từng say mê cổ nhạc như say mê tân nhạc. Cùng lứa tuổi, Hương Lan trên sân khấu, dưới ánh đèn, thỏ thẻ điệu ca vọng cổ, xàng xàng, lên cao, rồi xuống xề, khiến cậu bé hả miệng suốt buổi, đêm về mộng mơ. Đó cũng là một lý do tôi yêu thích ca khúc Những Ngày Thơ Mộng của Hoàng Thi Thơ. Đúng làm sao: Tìm đâu những ngày chưa biết yêu? Chỉ thấy, thấy lòng nhớ thương nhiều. Rồi đêm ta nằm mơ, hồn say ta làm thơ. Ngồi ngâm trách lòng ai hững hờ… Hồi đó, tôi bắt đầu làm thơ Lục Bát.
KHÁNH LY - TIẾNG HÁT 60 NĂM Chiều Nhạc Đời Cho Ta Thế với Chế Linh, Tuấn Ngọc, Ngọc Minh, Bích Liên, Quang Thành, Thắng Đào Dance Company, Ban Hợp Ca Cát Trắng, Ban Nhạc Sỹ Dự. Lê Đình Y Sa và Jimmy Nhựt điều hợp. Rose Theater, Ngày 7 Tháng 8 Vé: $200; $150; $100. Gọi: 714 894 2500 để đặt vé.
Phim Maika gần đây đã ra mắt khán giả tại Hoa Kỳ và nhận được nhiều khen ngợi trên mạng xã hội. Truyện phim lấy cảm hứng từ Maika, cô bé từ trên trời rơi xuống – một cuốn phim truyền hình Tiệp Khắc chiếu ở Việt Nam những năm 1980. Phim Maika do đạo diễn Hàm Trần, cùng một đạo diễn với bộ phim được khán giả người Việt hải ngoại yêu chuộng - Vượt Sóng, thực hiện. Phim hiện đã chiếu đến tuần thứ ba ở Nam California, khán giả Little Sài Gòn nếu chưa xem thì còn kịp đến xem vào cuối tuần này tại rạp Regal ở Garden Grove, mỗi ngày 4 xuất chiếu. Lịch chiếu thứ Sáu đến Chủ Nhật là 2:20 PM, 4:55 PM, 7:30 PM và 10:05 PM.
Bài nhạc này là lời tiễn biệt nhạc sĩ Cung Tiến vừa ra đi. | Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt | Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi | Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi | Gỡ tay vướng để theo lời gió nước | Xao xác tiếng gà. | Trăng ngà lạnh buốt. Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi Du khách đi, du khách đã đi rồi…
Ấn bản in số đặc biệt TIễn Biệt Cung Tiến
Âm nhạc của Nhạc Sĩ Cung Tiến đã chinh phục cả hai, ba thế hệ người thưởng ngoạn, suốt từ thập niên 50 cho đến ngày nay; và có lẽ trong một tương lai rất lâu nữa, người ta vẫn nghe nhạc của ông. Tuy đã khá trọng tuổi, nhưng sự ra đi của ông mới đây vẫn là sự bất ngờ đến bàng hoàng đối với những người thân yêu và mến mộ ông. Nỗi niềm thương tiếc này được biểu hiện bằng đôi lời chia biệt với ông và gia đình từ khắp nơi. Việt Báo trích đăng lại. Cầu mong Ông yên nghỉ.
Một ngày cuối xuân đầu hạ, nắng vàng phả lên những vòm cây xanh, một số rất ít những người chí thiết cùng gia đình quyến thuộc cùng nhau đến một ngọn đồi cách thành phố Los Angeles chừng 30 dặm về phía tây bắc để tiễn đưa một người rất mực thân thiết. Đó là nhạc sĩ Cung Tiến. Cung Tiến là một nhạc sĩ nổi tiếng khi còn rất trẻ và được xem là một thiên tài với những ca khúc được phổ biến rộng rãi như Thu Vàng, Hoài Cảm sáng tác từ năm 13, 14 tuổi. Cung Tiến đã học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh thời kỳ Trung học, sau đó du học Úc ngành Kinh tế học, cùng lúc theo học hòa âm, đối điểm, phối âm và dương cầm tại Nhạc viện Sydney. Ông còn học các lớp nhạc sử, nhạc học, nhạc lý hiện đại tại Đại học Cambridge khi còn làm nghiên cứu kinh tế phát triển với học bổng Cao học tại Anh quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.