Hôm nay,  

Chiều Đông

23/02/202011:07:00(Xem: 7140)
HT Quang Do 02
Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ


(Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ)

Một ngày tháng 8 năm 1992, tôi nhận được một bài thơ của một người bạn tin cẩn gởi từ trong nước. Anh chép tám câu thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ nhưng không có tựa.

Tôi đọc và rất cảm động. Qua từng câu thơ tôi hình dung cảnh cô đơn, trống vắng, quạnh hiu mà Thầy đang sống trong thời gian lưu đày ở Thái Bình trong một buổi chiều đông.

Sau 1975, giữa lúc gần hết mọi người đều đi theo chiều gió, Thầy cố bước ngược chiều để mong cứu vớt những gì còn sót lại sau những điêu tàn, đổ nát. Tinh thần vô úy của đạo Phật đã giúp Thầy vượt qua bao thử thách, cực hình, đày đọa.

Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tã tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày từ Sài Gòn ra Vũ Đoài, Thái Bình, Thầy vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương và đạo pháp.

Chúng ta sống trên đất tự do, dễ dàng nói với nhau về yêu nước, yêu đạo, dễ dàng nói với nhau về hy sinh, đại nguyện. Nhưng nếu chúng ta sống một đêm, một đêm thôi, trong đau thương trăn trở giữa ngục tối Hàm Tân như HT Thiện Minh, một đêm mang nặng ưu tư đau nhức tại nhà tù Phan Đăng Lưu như HT Quảng Độ, một đêm trầm mặc suy tư trên mỗi bước thiền hành ở Quảng Ngãi như HT Huyền Quang, chắc chắn chúng ta sẽ hiểu ra rằng Bồ Tát giống tất cả chúng ta nhưng chúng ta không phải dễ dàng là Bồ Tát.

Ngày đó không có mạng xã hội Facebook như bây giờ. Chúng tôi là một nhóm vài trăm người sinh hoạt với nhau trong giai đoạn Internet còn rất phôi thai.

Tôi gởi bài thơ cho cả nhóm đọc. Nhưng bài thơ thì phải có tựa. Tôi không nói với ai, chỉ im lặng và mạo muội đặt tựa là Chiều Đông, phía dưới viết tên tác giả HT Thích Quảng Độ. Luôn dịp tôi họa lại bài thơ của Thầy đặt tựa Tấc Lòng Son, và sau đó in trong tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười xuất bản lần đầu tại San Jose cuối năm 1992.

Trước ngày Thầy bị bắt và tôi chưa rời Việt Nam, mỗi tuần tôi thường gặp Hòa Thượng đi bộ từ chùa Giác Minh trên đường Lý Thái Tổ xuống ngã sáu Trần Quốc Toản, để từ đó đón xe Lam qua Thanh Minh Thiền Viện giảng thiền học. Dáng Thầy thanh cao, vầng tráng rộng, miệng Thầy luôn mỉm cười như chúng tôi thường bắt gặp trong những ngày trước 30-4-1975 ở Đại Học Vạn Hạnh. Phải chăng ngay cả trong lúc mang nặng ưu tư về tiền đồ dân tộc và đạo pháp, tâm Hòa Thượng Quảng Độ vẫn an nhiên, tự tại.

Thầy dạy Triết Đông và tư tưởng Phật Giáo cho sinh viên các khoa Khoa Học Nhân Văn và Phật Khoa. Tôi không trực tiếp được học Thầy. Nhưng những buổi giảng chuyên đề của các thầy thường mở rộng cho sinh viên các ban khác. Ngày đó tôi còn nhỏ nhưng may mắn được nhiều lần ngồi nghe các thầy dạy bảo. Hòa thượng Quảng Độ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thuyền Ấn v.v.. Mỗi thầy một nét. Cao siêu nhưng gần gũi. Giản dị nhưng thâm trầm.

Những hạt giống nhân duyên các thầy gieo xuống tâm hồn tôi nay đã lớn lên. Kỷ niệm không bao giờ chết. Kỷ niệm lớn như cây. Nếu biết chăm sóc, kỷ niệm cũng nở hoa như những loài hoa tươi đẹp khác.

Ba mươi tháng Tư, 1975, chúng tôi như bầy chim bay tán loạn bốn phương trời. Dù phải sải cánh bao xa, chúng tôi đều mang theo trong tâm hồn mình những bóng mát của một thời tuổi trẻ. Thời của tuổi mười tám với buồng phổi căng đầy sức sống. Bóng mát đó là các thầy. Bóng mát đó là thiền viện, thư viện, giảng đường, và bóng mát đó là lý tưởng Duy Tuệ Thị Nghiệp.

Hành trình đầy bi tráng của Thầy trong suốt 10 năm bị bắt giam, tra tấn và lưu đày cùng với bà mẹ già 90 tuổi ở Thái Bình đã để lại một niềm thương yêu và kính phục sâu xa, không những trong lòng nhiều triệu Phật Giáo đồ Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà cả trong cộng đồng nhân loại.

Bài thơ của Thầy:

CHIỀU ĐÔNG

Nghe lòng xa vắng những chiều đông
Nhìn nước mênh mông khắp mặt đồng
Bát ngát núi xa mờ bóng cọp
Thăm thẳm trời cao bặt cánh hồng
Bao độ cà tan cà nở nụ
Mấy mùa lúa rụng lúa đơm bông
Năm tháng mỏi mòn đầu đã bạc
Còn chút lòng son gởi núi sông
(HT Thích Quảng Độ, Thơ Tù HT Thích Quảng Độ, trang 265)

TẤC LÒNG SON

Lời thầy vang vọng giữa chiều đông
Hương ngát vô ưu rót tận lòng
Mây nước muôn trùng tan với hợp
Quê hương ngàn dặm có mà không
Tóc xưa dẫu bạc lòng không đổi
Áo cũ dù phai giữ đạo đồng
Mười năm trải một lòng son sắt
Tiếng vọng ngàn thu với núi sông.
(Trần Trung Đạo, Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, trang 126)

Cách đây vài năm, khi nhận được thi tuyển Thơ Tù của HT Thích Quảng Độ lần đầu, tôi hồi hộp đọc phần mục lục trước để xem Thầy đặt tựa bài thơ là gì.

Tôi rất vui và cảm động khi biết Thầy cũng đặt tựa bài thơ là Chiều Đông. Tôi thầm cám ơn Thầy đã cho phép tôi được sống trong cùng một tâm cảm với Thầy.

Thầy là rừng, tôi chỉ là chiếc lá nhưng nhờ có nhân duyên lá và rừng được sống với nhau trong một chiều đông.

Sáng hôm qua, trong lúc đang đi bộ trên đường nhỏ trong xóm tôi nhận một tin nhắn của một Phật tử tin cẩn từ trong nước “Hòa thượng Quảng Độ vừa viên tịch”. Tôi lặng người. Không phải vì Thầy ra đi sớm nhưng vì Thầy ra đi.

Đại Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ viên tịch chấm dứt một chương dày 45 năm trong lịch sử đầy thăng trầm của Phật Giáo Việt Nam. Những chương mới sẽ mở ra nhưng sẽ khác hơn nhiều.

Trong tất cả tôn đức chịu đựng tù đày, Thầy là vị đã sống trong tù lâu nhất. Từ tháng 6, 1977 cho đến khi viên tịch, Thầy vẫn là một tù nhân của chế độ CS tại Việt Nam.

Chín mươi năm từ khi tiếng gậy trúc của chư tổ vang lên ở các tổ đình khởi đầu cho công cuộc phục hưng Phật Giáo. Trong thời gian đó, bao nhiêu đổi thay đã xảy ra cho đất nước Việt Nam và cho Đạo Phật tại Việt Nam. Hôm nay, một trong những vị còn lại của thế hệ phục hưng Phật Giáo vừa viên tịch. Con thuyền đạo pháp như Thầy nhấn mạnh sau 1975 vẫn còn chênh vênh và niềm trăn trở cho quê hương của Thầy vẫn còn trăn trở.

Nhưng áng mây bay đi sẽ mang về những giọt nước cho cánh đồng khô. Không có gì còn hay mất. Chỉ là những dạng khác nhau trong một cuộc vận hành. Cành mai Quảng Độ vừa rơi xuống nhưng như Thiền Sư Mãn Giác đời Lý viết, sáng mai đây, những cành mai khác lại sẽ nở ra.

Bước chân của Thầy không còn nghe nhưng tình yêu của Thầy dành cho quê hương vẫn sáng như ánh trăng rằm, đậm đà như mùi hương của đất và dạt dào như lời thơ Thầy viêt trong một Chiều Đông năm đó.

Từ nước Mỹ xa xôi, con cúi đầu đảnh lễ giác linh Thầy.

Trần Trung Đạo

Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống Cũng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
Nhưng tháng tư, dân tộc đã kiệt sức. Những người đẹp nhất từ hai phía đã chết. Còn lại, bọn tầm thường chúng ta. Khi dòng sông khô cạn, bầu trời thăm thẳm không gợn mây, cỏ cháy khô từ ngọn đến gốc, nhiều ngày không mưa, khi một xác chết nằm vắt qua đường ray xe lửa khô đi dưới nắng hạn chuyển màu đen nhưng không thối rữa, lẽ ra chúng ta phải biết mọi chuyện sắp kết thúc.
Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.