Hôm nay,  

Opera và truyện tranh chống phát xít

17/04/202600:00:00(Xem: 319)

Death Strikes Maass Lay
Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay, do Berger Books ấn hành năm 2024, dày 128 trang. Mua tại Bookshop.org
 
Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.

Tác phẩm ấy, ngay từ đầu, đã mang vẻ khác thường. Nó không chỉ là di vật của quá khứ hay chứng tích để người đời sau cúi đầu mà nhìn. Nó là một sáng tạo đích thực. Một vở opera. Một tiếng nói. Một cuộc phản kháng. Trong thế giới của Ullmann và Kien, một đế quốc điên rồ phát động chiến tranh cho đến lúc chính Tử thần cũng mệt mỏi mà bỏ việc. Và khi Tử thần ngưng tay, loài người bỗng rơi vào một cơn hỗn mang không sao gượng dậy được. Chết không chết hẳn. Sống không ra sống. Cả nhân loại như bị quăng vào một khoảng trống ghê rợn, nơi quyền lực tự ăn thịt mình, nơi bạo lực trở thành trò cười cuối cùng của lịch sử.

Nhưng cái nền sâu xa của tác phẩm không nằm riêng trong cốt truyện. Nó nằm trong Theresienstadt, nơi bạo quyền vừa hành hạ con người vừa muốn dùng họ làm mặt nạ cho chính mình. Đức Quốc xã cho phép những sinh hoạt văn hóa hạn chế ở đó, có âm nhạc, có thơ, có tranh, có kịch — không phải vì nhân đạo, mà vì tuyên truyền. . Thế nhưng, giữa cái vỏ bọc giả dối ấy, sáng tạo của con người lại càng trở thành một cử chỉ tuyệt vọng mà đẹp đẽ. Người ta viết không phải để trang trí cho địa ngục. Người ta viết để giữ lại phần người cuối cùng chưa bị tước mất.

Ullmann và Kien là hai người của khoảng sáng mong manh ấy. Một người là nhạc sĩ gốc Do Thái, từng đi qua Vienna, Prague, từng học với Schoenberg, mang theo một tinh thần âm nhạc hiện đại mà cũng rất cô độc. Người kia trẻ hơn, mang trong người năng khiếu văn chương và hội họa chưa kịp nở đã bị lịch sử cắt ngang. Trong điều kiện mà còn sống đã là một điều bất thường, họ vẫn viết, vẫn làm, vẫn cùng nhau dựng nên một vở opera ngắn mà gọn, mà sắc, mà đau, như một lưỡi dao nhỏ giấu trong tay áo của kẻ bị hành hình.

Cái hay của Der Kaiser von Atlantis là nó không chịu nằm yên trong cái xác của một “tư liệu lịch sử”. Sau chiến tranh, bản thảo được tìm lại, nhưng không còn nguyên vẹn. Người đời sau phải lần mò, phục dựng. Nhưng chính cái đứt đoạn ấy làm cho nó thêm phần ám ảnh. Vì đây không còn là một tác phẩm sống trọn vẹn từ đầu đến cuối theo lối thông thường nữa. Nó là một thân thể nghệ thuật đã từng bị chôn vùi nay được đào lên, còn mang vết thương, mang dấu vết của sự vùi lấp của một thời đại từng muốn xóa bỏ nó khỏi mặt đất.


Từ đó, Death Strikes không chỉ là một bản chuyển thể. Nó là một lần tái sinh. Một tác phẩm cũ bước sang một ngôn ngữ mới, và bằng ngôn ngữ ấy, nó tiếp tục sống. Dave Maass và Patrick Lay đã làm một việc rất đáng kể là đưa tác phẩm ấy ra khỏi vùng hẹp của sân khấu opera, nơi người xem vốn đã quá quen với nhịp điệu cổ điển, để trao nó cho một không gian khác, rộng hơn, trẻ hơn, và gần hơn với nhịp nhìn của thời nay. Ở đó, âm thanh nhường chỗ cho hình ảnh. Lời hát biến thành đường nét. Nỗi bi thiết được vẽ thành những mảng đen trắng lặng thinh mà dữ dội. Truyện tranh, trong trường hợp này, không làm nhẹ tác phẩm xuống. Nó chỉ đổi giọng cho nó, để câu chuyện ấy có thể đi xa hơn, lâu hơn, và đến với những người vốn chưa từng bước vào một nhà hát.

Người ta thường hỏi: nghệ thuật có thể làm gì trước bạo quyền? Câu trả lời không đơn giản. Nghệ thuật không ngăn được xe tăng. Không khóa được tay độc tài. Không dựng nổi một hàng rào cho lịch sử. Nhưng nghệ thuật có một thứ quyền lực khác, âm thầm và dai dẳng. Nó giữ ký ức. Giữ tiếng nói của người bị bức tử. Giữ cho sự thật còn một chỗ trú ngụ ngoài những lời tuyên truyền. Trong trường hợp Der Kaiser von Atlantis, giữa lòng một hệ thống phi nhân, con người vẫn còn hát được, vẫn còn viết được, vẫn còn chế giễu được chính cái quyền lực đang muốn nghiền nát họ.

Bởi vậy, việc tác phẩm ấy được dựng lại trên sân khấu, rồi bước sang truyện tranh, không chỉ là một sự kiện văn nghệ. Nó là một cử chỉ của ký ức. Một sự nối dài của tiếng nói. Một cách trả lại cho những người đã chết một phần lời họ từng để lại trong bóng tối. Khi người ta đọc Death Strikes hay nghe lại Der Kaiser, người ta không chỉ thưởng thức một câu chuyện kỳ dị về tử thần đình công. Người ta đang đứng trước một chứng tích rằng trong những giờ phút đen nhất, nghệ thuật vẫn còn đứng vững. Bằng sự còn lại. Bằng trí nhớ. Bằng việc từ chối quên.

Và có lẽ chính ở đó, ý nghĩa sâu xa nhất của tác phẩm mới hiện ra. Nó nhắc ta rằng phát xít không chỉ giết người. Nó còn muốn làm cho người ta biến mất khỏi ký ức của thế giới. Mỗi lần Der Kaiser von Atlantis được hát lên, là một lần ký ức chống lại sự quên lãng. Mỗi lần nó được đọc lại bằng một ngôn ngữ mới, là một lần nghệ thuật bước ra đối diện với cỗ máy hủy diệt. Để một tác phẩm từng bị ném vào bóng tối vẫn còn một chỗ đứng trong ánh sáng của người sau.
 
Nguyên Yên

Tham khảo: Melissa Chan, “Opera (and Comics) Against Fascism,” Los Angeles Review of Books, 16-2-2026; Death Strikes: The Emperor of Atlantis, Dark Horse Comics, 2024; United States Holocaust Memorial Museum, “Theresienstadt” và “Theresienstadt: Cultural Life”; National Library of Israel, bài viết về Der Kaiser von Atlantis.

Sách có bán tại: https://www.amazon.com/Death-Strikes-Atlantis-Dave-Maass/dp/1506737307

Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống Cũng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
Nhưng tháng tư, dân tộc đã kiệt sức. Những người đẹp nhất từ hai phía đã chết. Còn lại, bọn tầm thường chúng ta. Khi dòng sông khô cạn, bầu trời thăm thẳm không gợn mây, cỏ cháy khô từ ngọn đến gốc, nhiều ngày không mưa, khi một xác chết nằm vắt qua đường ray xe lửa khô đi dưới nắng hạn chuyển màu đen nhưng không thối rữa, lẽ ra chúng ta phải biết mọi chuyện sắp kết thúc.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.