Hôm nay,  

Hoa Trái Đầu Mùa

02/01/202114:55:00(Xem: 3944)

Hoa Trái Đầu Mùa


blankblank


Đêm hôm qua, đêm cuối năm Dương Lịch, ngày 31 tháng 12 năm 2020. Tôi thỉnh thoảng chạy ra trước cửa nhìn sang phía bên kia hồ xem có ai đốt pháo bông, cố nghiêng tai lắng nghe xem có tiếng súng bắn lẻ của ai đón mừng Năm Mới không. Đốt pháo bông và bắn súng lẻ là hai điều vẫn xảy ra đêm giao thừa Dương Lịch ở khu Eastside của thành phố Seattle, nơi chúng tôi cư ngụ. Không nhiều lắm, nhưng hàng năm vẫn có, một vài bông hoa pháo và tiếng súng bắn lẻ như một dấu hiệu, một tiếng cười bật lên chào năm mới. 


Trong nhà tôi, hai vợ chồng vẫn như những ngày thường, ăn cơm chiều xong, xuống nhà dưới mở truyền hình nghe tin tức của PBS, rồi kiếm một cái phim xem giải trí. Chúng tôi rất ít khi ăn mừng Tết Dương Lịch. Vào những năm Thái Bình Thịnh Trị, cả đại gia đình, anh, chị em chúng tôi thường tụ họp hơn mấy chục người ăn mừng Lễ Phục Sinh, Lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh và Tết Nguyên Đán với nhau. Ngày Tết Dương Lịch thường nhóm trẻ tụ họp bạn bè của chúng, cha mẹ không can dự. 


Năm nay mỗi gia đình tụ họp riêng, Gia đình tôi, đã có tụ họp nhỏ trong Lễ Giáng Sinh, năm nay lại hạn chế tối đa nên ông bà không tới nhà con cháu thường xuyên được nữa. Nếu có chỉ dùng “online”. 


Không có dấu hiệu, không tiếng động, không có gặp mặt, ngày hôm nay giao thừa dương lịch, đối với chúng tôi, cũng giống như những ngày trong nguyên 10 tháng trôi qua của năm 2020. Những ngày rất buồn đó bắt đầu từ tháng 3/2020. 


Tất cả chúng ta đã trải qua những ngày căng thẳng, những tháng rất buồn giữa đất nước tốt đẹp này. Con siêu vi trùng có tên là Covid.19 đã tàn phá, cướp đi sinh mạng cả một triệu con người trên thế giới nói chung và mấy trăm ngàn trên nước Mỹ nói riêng. Ngoài bệnh tật, người dân Mỹ chúng ta còn phải chịu đựng, phải chống trả với thù hận, kỳ thị, chia rẽ với một con vi trùng khổng lồ nữa là “Con Người”. 


Hơn bao giờ hết chúng ta cần những lời chúc gửi cho nhau là lời chúc an bình, hòa thuận. Gia đình, bạn hữu hãy bỏ và quên đi những khác biệt chính kiến, đừng lăng mạ nhau về những điều chính chúng ta cũng chưa thấu đáo tới nơi tới chốn. 


Người Việt Nam mình vẫn được coi là những người hiếu hòa, những người thân thiện, những người tình nghĩa thủy chung. Dắt díu nhau sang nước người sinh sống vì tránh Cộng Sản, sau mấy chục năm, đôi khi cũng có những bất hòa, nhưng chưa bao giờ chia rẽ kinh hoàng như mấy năm gần đây. Có những người bạn vượt biển, vượt biên, sống chết có nhau, gắn bó mấy chục năm, tưởng như không biến cố nào có thể tách rời nhau ra nữa. Bỗng vì bất đồng chính kiến, kẻ Dân Chủ, người Cộng Hòa từ mặt nhau một cách phũ phàng. Rồi con tránh không nói chuyện với cha, vợ quay lưng lại với chồng. Thật không thể nào hiểu nổi. 


Một số người vẫn tin vào cái đẹp cái thiện của nước Mỹ và người Mỹ. Sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử nước Mỹ vẫn đứng vững và vẫn là một vùng đất lý tưởng cho rất nhiều người trên thế giới muốn tới dung thân. 


Xin cầu cho mọi cái xấu của năm cũ qua đi, thay vào đó những lời chúc tốt lành như hoa trái đầu mùa, mang tới cho những người dân sống trên mảnh đất Hiệp Chủng Quốc này, dù chủng tộc nào, tôn giáo nào, màu da nào cũng được Thượng Đế ban phát bình an tràn đầy trong hai bàn tay họ như hoa trái đầu mùa để họ lại mang chia cho người đang ở bên cạnh mình và cả những người ở rất xa mình. 


Trần Mộng Tú 

 JAN 1st, 2021

 

Lần cuối, nghĩa là lần mới nhất, không phải là lần cuối cùng, tôi gặp Trương Vũ tại nhà của Trần Vũ, khi Trương Vũ ghé Quận Cam, trước khi anh bay lên Bắc California để thăm chị ruột của anh, họa sĩ Trương Thị Thịnh. Lúc đó là, có lẽ năm ngoái. Lúc đó, mối giao tình của Trương Vũ và tôi đã trải rộng từ hơn ba thập niên, từ những ngày tôi còn ở Miền Đông Hoa Kỳ. Thời xa xưa, tôi gọi anh bằng tên là anh Sơn, anh Trương Hồng Sơn, khi nhìn anh như một nhà khoa học. Và nhiều năm sau, khi đọc nhiều bài viết của anh trên Văn Học và Hợp Lưu, tôi gọi anh qua bút hiệu là Trương Vũ. Rồi vài năm gần đây là nhìn anh như họa sĩ. Thời gian đã cho anh hiển lộ qua nhiều tài năng, và với rất nhiều tóc bạc. Nhưng nụ cười của Trương Vũ vẫn hiền lành, đôi mắt vẫn tinh anh, cử chỉ và thái độ vẫn luôn là từ tốn, cẩn trọng, dịu dàng.
Trải qua gần bảy thập niên, từ cuối thập niên 1950’ đến nay, trong lãnh vực báo chí và văn chương, tên tuổi Trần Dạ Từ, Nhã Ca nổi bật, quen thuộc với giới báo chí, văn nghệ sỹ và độc giả từ miền Nam Việt Nam ở hải ngoại. Với nhiều bài viết về Trần Dạ Từ trên nhiều khía cạnh trong sự nghiệp và sáng tác nên nếu viết cũng là sự lặp lại, vì vậy trong bài viết nầy trích dẫn bạn văn, bạn tù đã sống gần gũi nhau đã viết về ông, nhất là bạn tù.
Ông Tri vung tay hất đổ chén canh, vỡ nhiều mảnh trên nền nhà, tung toé mùng tơi và tôm khô. Ông đưa tay lên lần thứ hai, muốn tát vào mặt con rể. Anh nắm tay ông lại. Lòng tung tóe giận dữ. Ánh mắt giết người làm ông sợ hãi. Rụt tay lại. Quay mặt vào vách. Anh hít một hơi đầy, thở mạnh ra. Xả cơn giận. Đứng lên đi dọn dẹp. Những mảnh chén vỡ làm anh nhớ lại lần đầu tiên khi anh đến nhà thăm Lài, ông Tri đã giận dữ đập vỡ tách trà vì không muốn con gái ông quen biết với người nhìn bề ngoài trông giống du đảng, tóc dài và ăn mặc không tiêu chuẩn.
Măc dầu câu kết của hai bài thơ của họ Thôi và ho Lý đều kết thúc bởi câu “sử nhân sầu” Nhưng cái buồn của họ Thôi, cái buồn của người hiểu thế sự. Cái buồn của họ Lý là cái buồn tích cực nhập thế. Họ Thôi thì nhớ về quê hương còn họ Lý thì nhớ thủ đô Tràng An. Như vậy xem ra mối sâu của Thôi Hiệu và của Lý Bạch không giống nhau. Hai bài thơ có những ưu điểm riêng, bổ túc cho nhau.
Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường vào đầu thế kỷ XIX của khuyết danh chỉ đề cập tổng quát, được đề cập nhiều (Sau nầy có bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không có gọi tên phố phường). Tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam (1910-1942) ấn hành năm 1943 được phổ biến rộng rãi, được mọi người biết đến nếp sống, sinh hoạt… của Hà Nội xa xưa.
Nhà thơ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông. Ông là con út trong gia đình gồm sáu anh chị em: anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lập gia đình với nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1915-1976). Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) thường gọi là bằng Thành Chung. Ông được học bổng tiếp tục đèn sách để thi Tú Tài bản xứ thì “Thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ. Năm 1943, ông xuất bản tập văn xuôi Đám Ma Tôi nhưng sau đó nổi tiếng với bài thơ Kỳ Nữ. Năm 1944, nhà thơ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, ông ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, và năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học.
Cha anh, ông Thụ, là một người trung bình về mọi phương diện. Ưa thích quyền lực nhưng không thỏa mãn. Quyền lực mà ông có nhiều nhất là đối với vợ con. Đứa con trai duy nhất, “Em à, số vợ chồng mình thật xui. Có một đứa con mà nó lại sống ở trên mây.” _”Còn hơn nó chết à?” Thú vui lựa chọn của ông Thụ là tập bắn súng. Súng trường, súng lục, súng nào ông bắn cũng giỏi. Đã đoạt một số giải thưởng bắn thi. Và dĩ nhiên, ông muốn truyền tài năng này cho con trai. Năm 17 tuổi anh đã đoạt giải quán quân về tầm bắn xa 200 mét. Khi anh đeo dây huy chương trên cổ, tay cầm cái cúp giải thưởng, cha anh đã ôm anh thật chặt, Hơi nóng ấm áp chuyền qua làn áo vải. Ông đã tìm thấy ông và anh đã tìm thấy cha. Tính tình cha con anh có nhiều chuyện khác nhau, từ sở thích đến suy nghĩ. Khi còn nhỏ, anh không thích ăn thịt. Ông ăn thịt bò bíp-tết hai ngày mỗi tuần. Mỗi lần ăn, ông cắt thịt ra từng mảnh nhỏ, bắt anh hả miệng và đút vào. _”Nhai đi.” Cùng một cách ra lệnh, _”Nghĩ đi”, _”Làm đi”, _”Thở đi” _Số
Mẹ tôi, sinh nhật nào cũng bốn cây bạch lạp thắp sáng, năm nào bà cũng bốn mươi tuổi, không già hơn. Sinh nhật năm nay cũng vậy. Đàn cháu hát hăm hở Happy Birthday mừng bà nội. Mừng điều gì, tôi không biết. Sống lâu? Bà gần như không bao giờ chết. Xinh đẹp? Bà có bao giờ thay đổi đâu. Khỏe mạnh? Bà sẽ không bao giờ bệnh. Có lẽ con gái tôi biết được điều gì tôi không biết. “Chúc bà nội năm nay có tình yêu.” Cả đám con cháu cười vang kèm theo tiếng vỗ tay. Mẹ cười âu yếm. Trong căn phòng khách này, tôi là người già nhất và là người lạc hậu nhất.
LTS: Nhà văn Dương Nghiễm Mậu qua đời lúc 21 giờ 35 phút tối, giờ VN, ngày 2 tháng 8 năm 2016 (nhằm ngày 30 tháng 6 năm Bính Thân) tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa (quê ngoại làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Lập gia đình năm 1971, với Hồ Thị Ngọc Trang, giảng viên Anh ngữ. Sau 30/4/1975 bị bắt giam. 1977 đươc tạm tha. Từ 1977, học nghề sơn mài và sống bằng nghề này tại Sài Gòn. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn. Từ 1957 trở đi Ông viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Nhân ngày giỗ thứ tám, Việt Báo xin trích đăng lại nhà văn Dương Nghiễm Mậu từ tập “Tự Truyện Nguyễn Du”.
Tôi không khỏi bâng khuâng được tin Chị Võ Phiến, tên thật là Viễn Phố, phu nhân nhà văn Võ Phiến (1925-2015), đã qua đời ngày 24 tháng 7, 2024, hưởng thọ 94 tuổi. Trong số các bạn đời của các bạn văn của tôi, chị là người phối ngẫu tôi có dịp gần gũi hơn cả, từ khi anh còn sống và cả sau khi anh đã qua đời...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.