Hôm nay,  

Kỷ Vật

06/10/202300:00:00(Xem: 4863)

IMG_3625

 

Kỷ vật là vật kỷ niệm. Trong “kỷ niệm”  ky niem ,   chữ kỷ, nghĩa danh từ là đầu mối sợi tơ, sợi chỉ; nghĩa động từ là gỡ sợi dây ra. Niệm, nghĩa là mong nhớ khi nghĩ đến.
  

Kỷ vật, lần theo sợi thời gian tìm đến nhớ thương. 

Kỷ vật, có khi nhẹ nhàng, nhỏ nhặt, mà thắm thiết ngậm ngùi như:

Trong đáy túi chứa đầy danh thiếp cũ

Những tên người tên tỉnh đã xa xưa

Những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ

Những đường quen không trở lại bao giờ                                        

                          (Kho Tàng, thơ Cao tần.)

Kỷ vật, cũng có khi đau đớn, thảm sầu suốt đời người như:

Kỷ vật đây viên đạn mầu đồng

Cho em làm kỷ niệm sang sông

Đời con gái một lần dang dở …

                  (Kỷ Vật Cho Em, thơ Linh Phượng.)

 

Kỷ vật, không trừu tượng, là một thứ gì bằng vật chất ghi lại, cưu mang, hoặc ẩn tượng một kỷ niệm nào đó. Loại kỷ niệm có động lực gợi lại những vui buồn, thương tiếc, nhớ nhung; có khả năng làm nhếch một nụ cười hoặc làm mờ khóe mắt. Có những kỷ vật dù đã mất nhưng không quên.

Mỗi đời người càng sống lâu, càng có nhiều kỷ vật. Điều này cất vào kho tàng quá khứ, có hay không, nhiều hạnh phúc đã qua mà mùi hương không bao giờ xao lãng. 

Tâm đơn giản hoặc phức tạp là do có nhiều kỷ vật quí giá hay không. Người ta tìm kiếm kỷ vật bằng cách lục lọi lại những đồ vật cũ đã cất giữ đâu đó, hoặc vô tình tìm thấy ở một nơi nào bất ngờ, hoặc quay lui vào trí tưởng.

Có những kỷ vật làm trái tim bật cười. Có những kỷ vật làm hồn tê liệt. Có những kỷ vật làm dĩ vãng mê mang. Có những kỷ vật làm hơi thở nấc lên đứt đoạn.

Kỷ vật không quan trọng lắm đối với tuổi trẻ, nhưng là những gì ám ảnh, nhiều khi sâu đậm, đối với tuổi già.

Mỗi kỷ vật có mỗi không gian, mỗi vị trí, mà sức nặng biến hóa theo thời gian. Có kỷ vật càng ở lâu càng nhẹ. Có kỷ vật nặng thêm theo tuổi đời.



Mỗi kỷ vật là một thứ gì đang chết chợt hồi sinh. Có hơi thở phập phồng trong hồi ức. Dù hiện diện hay thất lạc, sẽ tìm về gặp lại cố nhân.

 

Tất cả người Việt lưu vong, lưu xứ, đều mất rất nhiều kỷ vật của một đời. Không làm sao nhớ hết những gì đã mất. Lúc tuổi già kỷ vật như cánh chim, bất chợt bay ngang hiện tại, chạm vào đám mây trời, làm rơi những cơn mưa.

Thế hệ tiền phong lưu vong nay đã già, hầu hết đã trở lại quê nhà theo nắng phương đông. Những kẻ còn lại lạnh lùng quanh chung cư dưỡng lão. Kỷ vật quạnh hiu trong trí tưởng mập mờ. Thỉnh thoảng vụt ra, buồn vui hay đau đớn? Rồi sao? Dù chậm hay nhanh trang sử sẽ lật qua.

Kỷ vật để lại hóa thân thành phế thải. Lưu lạc bãi bờ, vào tay người Mễ, người da đen. Cũng tốt thôi, kỷ vật thành tặng vật. Ai biết bên trong còn đỏ máu nỗi niềm.

Khi kỷ vật không còn ai thương nhớ, cánh chim năm xưa không còn chạm trời mây. Tiếng hót cũ hoàn thành niềm đau im lặng.

 

Hôm qua, tôi tìm thấy một kỷ vật đã cư trú trong đời hơn 40 năm. Họ xuất hiện từ một tiệm bán đồ vặt bên đường, gặp gỡ chúng tôi trong thời lang thang cùng hoài bão.

Ngày tháng ấy, chúng tôi còn trẻ, nhưng đã thấy được tuổi già không lẻ loi. Mang họ về làm chứng theo thời gian. Tối tăm và thương khó. Suy nghĩ và phiền hà. Ý chí và vất vả. Hy vọng và hy sinh. Mồ hôi và mất ngủ. Rồi họ theo người thấy được bình minh.

Chúng tôi du hành dọn đi xa tỉnh. Cất họ vào thùng. 30 năm sau mới mở ra. Họ không thay đổi mà chúng tôi đã già.

 

Em biết không, khi anh tìm thấy họ. Im lìm chịu đựng qua ngày. Chịu đựng thăng trầm. Chịu nhiều khắc khoải. Nằm trong bóng đen. Những con mối hoài công gặm nhấm theo kiểu đời vô tâm muốn di họa cho người. Đàn gián bò qua đẻ lại mùi hôi theo thói quen người đổ vạ cho nhau. Bầy nhện quấn tơ quanh họ đã phục tùng, không khác gì trời đày cho số phận. Họ im lìm chịu đựng qua ngày.

Sức nặng sức khó đè lên, mặt người phụ nữ nứt nẻ. Lão ông úp mặt chỉ còn nửa vành môi. Không phải chỉ đời người mới chịu nhiều khốn khổ.

Anh đã thức suốt đêm, chà mài sơn dán, để họ bên nhau trở lại bình thường. Quên đi những tháng ngày mệt mỏi. Bắt đầu những niềm vui sót lại. Để họ làm kỷ vật mãi mãi cho chúng ta. Và để chúng ta làm kỷ vật cho họ lúc giã từ.

 

Ngu Yên

Tết và Xuân, Xuân và Tết, thời điểm kỳ lạ trong một năm. Vừa trông chờ vừa mong đừng đến. Vừa lưu luyến rét đông vừa háo hức xuân ấm. Vừa khép kín đoàn tụ gia đình vừa chan hoà xôn xao lễ hội. Vừa lặng lẽ hoài niệm chuyện riêng tư vừa hân hoan cùng nhau “nâng chén ta chúc nơi nơi”...
Nhà hiền triết người Ấn Độ Jiddu Krishnamurti (1895-1986) qua đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Ojai Valley, Quận Ventura, Nam California, Hoa Kỳ, nơi ông đã chọn làm quê hương thứ hai từ năm 1922 cho đến khi ông mất, dù ông không ở đó thường trực. Tính đến tháng 2 năm nay, 2024 đã tròn 38 năm kể từ ngày ông lìa bỏ trần gian. Krishnamurti là một trong những nhà hiền triết có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 20. Cuốn “The First and Last Freedom” của ông được Giáo sư Phạm Công Thiện dịch sang tiếng Việt từ trước năm 1975 ở Sài Gòn với tựa đề “Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng” là một trong những cuốn sách tôi rất yêu thích đọc từ thời còn niên thiếu. Nhân tìm đọc lại một số bài giảng và bài viết của Krishnamurti, tôi tình cờ gặp được bài thơ “Song of the Beloved” (Bài Ca Về Người Yêu), nhưng không thấy ghi ông đã làm từ bao giờ. Có lẽ bài ca này ông làm vào những lúc về nghỉ ngơi tịnh dưỡng ở Ojai, vì bài đó nói lên lòng yêu thích thâm thiết của ông đối với thiên nhiên,
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch...
Người viết chơi với Phạm Thiên Thư từ những năm học trung học đệ nhất cấp khoảng 58-59. Thư đến nhà tôi ở ấp Cả Trắc, khu Ông Tạ và chúng tôi thường kéo nhau ra quán cà phê vợt ở đầu ngõ đi vào ấp. Trong những lần uống cà phê, Thư nói sôi nổi về việc lập học hội Hồ Quý Ly, để thực hiện việc nghiên cứu, viết văn, làm thơ. Mục đích là tiến tới làm một tập san văn nghệ...
Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo...
Mở đầu cho sê-ri bài viết về phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm thập niên 50 tại Bắc Việt Nam, là một tư liệu hiếm quý về/của nhà thơ Phùng Quán. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Nước Mỹ thế kỷ XX cống hiến cho nhân loại sự phong phú và đa dạng của các trào lưu, chủ đề và tiếng nói trong văn học. Một số tác giả và tác phẩm kinh điển đã xuất hiện trong thời kỳ này, góp phần phát triển truyền thống văn học có từ những thế kỷ trước. Riêng trong lĩnh vực tiểu thuyết, văn học hiện đại, thịnh hành vào đầu thế kỷ XX ở Châu Âu với kỹ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của James Joyce và Virginia Woolf, lan rộng sang Mỹ, tìm cách tách rời các hình thức truyền thống thế kỷ XIX để cách tân và hình thành một dòng văn học mới với phong cách độc đáo, táo bạo và mở ra những cánh cửa thú vị bất ngờ cho người đọc đi vào ngôi nhà nghệ thuật. Kỷ nguyên văn học hiện đại phương Tây bắt đầu từ hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX và, không thể nghi ngờ, Mỹ là quốc gia có những đóng góp to tát. Các tiểu thuyết gia lớn trong thời kỳ này, ta có thể nhắc đến F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway và William Faulkner.
Bước đi như vậy rõ ràng là không cần lưu dấu; nhưng chính là bước đi siêu tuyệt của bậc đại nhân, đại sĩ: không dấu tích mà lại tràn đầy công đức, lợi ích cho dân tộc, đạo pháp và nhân loại nhiều thế kỷ sau.
Một chương trong tiểu thuyết Đường Về Thủy Phủ của nhà văn Trịnh Y Thư...
Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của nước Việt trong thế kỷ 20. Ộng có địa vi cao cả trên thì văn đàn miền Nam và là người duy nhất được tôn xưng là thi bá...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.