Hôm nay,  

Phỉnh

02/01/202500:00:00(Xem: 4417)

Phỉnh
Truyện vừa, Khánh Trường.
 
LTS: Lục lại những email cuối, Khánh Trường viết: “Nina, chú đã hoàn chỉnh, cháu “save” vào 1 file riêng để mai mốt xong sẽ nhờ người layout rồi gửi in.”  Email kế tiếp là hình hai bìa khác nhau. KT viết: “Một bìa chú sẽ post lên facebook để “phỉnh”, bìa sau cháu giữ trong máy. Sẽ in. Sẽ chuyển dần cho cháu dò chánh tã.” (Những người biết KT, biết chữ “tã” của KT dấu “ngã”.)

Sách “Phỉnh” không biết đã được bao nhiêu đoạn trong máy computer, nhưng đây là phần I của cuốn tiểu thuyết cuối cùng Khánh Trường đang viết dở... với hình bìa sau đã hoàn chỉnh...  Riêng bìa trước xin chờ xem khi/nếu sách được in trong tương lai. (Nina HB Lê)
 
*

KHÁNH TRƯỜNG
Tặng cháu của chú, Nina Hòa Bình Lê

*
 
là khi trái tim phỉnh cái đầu
mở ra bầu trời
mời gọi giấc mơ
là khi chênh vênh trên miệng vực
ảo tưởng một bàn tay
chìa ra hy vọng                  
(Nina Hòa Bình Lê)

phỉnh-bìa-sau
Bìa sau sách Phỉnh
  
Phần I
 
Khu Nursing Home gồm bốn dãy nhà quây thành hình vuông. Mỗi dãy có tám phòng, cửa mở ra chái hiên rộng, lát gạch hoa có tam cấp dẫn vào mảnh vườn trồng nhiều cây trái nhiệt đới: mít, xoài, nhãn lồng, xen kẽ những loại cây và hoa đậm chất đông phương: tùng, liễu, mẫu đơn, phật quả, thiết mộc lan và hồ rộng, thiết kế mỹ thuật. Những con thác từ các mỏm đá cao đổ xuống tung bọt trắng xóa, đàn cá koi nhởn nhơ quanh các bụi thủy trúc, rải rác nhiều khóm liễu vươn ra từ bờ, sà thấp chạm mặt nước. Mùa hè, sáng, chiều, luôn có các lão niên ngồi trên những băng ghế đá, dưới các gốc cây phủ kín bóng mát bởi những tàn lá rộng, hóng gió, tán gẫu hoặc bày trò vui.

Chủ nhân cơ ngơi này là một người Mỹ gốc Á, đứng tuổi, nên không lạ khi mảnh vườn có khí vị tựa các mảnh vườn thường được mô tả trong các cổ thư Trung Hoa, trầm mặc, sâu lắng.

Tháng mười, lạnh. Buổi chiều thường có những cơn mưa, tiếng mưa rì rào trên mái, nhịp đều. Ông già lăn xe sát khung kính nhìn ra hồ nước lấp lánh vô số hạt thủy tinh phát sinh bởi ánh sáng từ những bóng đèn cách quãng trên bốn chái hiên bao quanh. Không khí tịch mịch. Mọi tiếng động đã bị bức tường cao quanh khu Nursing Home ngăn lại, tách lìa hẳn thế giới phồn hoa và phức tạp, bên ngoài.

Ông già vào đây đã gần ba tháng. Sau ngày vợ bị ung thư phổi qua đời, cậu con trai ở tiểu bang miền đông muốn ông già sang với gia đình hắn nhưng ông bảo,

“Người già rất sợ lạnh, ở đây nắng ấm hợp với ba hơn.”

“Ở đây ai lo cho ba?”, đứa con hỏi.

“Nghe nói có Nursing Home của người Á, hy vọng có nhiều đồng hương bầu bạn. Mày thử hỏi xem, ba muốn vào đó.”

“Không được đâu, người ta đồn, hàng ngày, ở trỏng buồn, bệnh trầm cảm sẽ đưa ba đi sớm.”

“Ối dào, đồn nhảm. Bệnh nhân nặng có khu riêng, chăm sóc đặc biệt, cách ly với người cao niên hoặc bệnh nhẹ. Ba có người bạn ở đó hai năm rồi, ông ta nói rất đầy đủ, từ ăn uống, tắm giặt, khám bệnh, thuốc men và cả vật lý trị liệu, nếu cần. Nói tóm, mọi thứ đã có y công, y tá, y sĩ lo. Cuối tuần thường có các nhóm thiện nguyện đến phát quà, văn nghệ, múa hát, biểu diễn ảo thuật. Lại nữa, có bầu bạn cùng trang lứa trò chuyện, bày nhiều thú vui, cờ tướng, cá ngựa, domino. Qua bển, vợ chồng mày đi làm, các cháu đi học, ba ở nhà một mình, lạnh và cô quạnh, có mà chết sớm thì có.”

Cậu con trai đành chiều ý bố, lên mạng tìm một Nursing Home hội đủ tiên chuẩn như ông già muốn, rồi làm thủ tục đưa ông già vào.

Phòng sáng và thoáng nhờ cửa kính lớn, màn mở toàn phần ban ngày, cộng hai hộp đèn dài turn-on suốt đêm. Mỗi bên ba giường, kê đầu sát tường, phía trên mỗi đầu giường trang bị đầy đủ, ống thở oxy, máy đo áp huyết, máy đo điện tâm đồ. Lối đi ở giữa rộng, thoải mái cho y tá mỗi sáng, chiều đẩy xe đến từng giường, kiểm tra sức khỏe, cho uống thuốc, vui vẻ thăm hỏi, giải thích hoặc đáp ứng mọi yêu cầu của bệnh nhân nếu có thể.

Giường cạnh ông già là một trung niên. Anh ta khoe trước ngày vào đây là một người thích các hoạt động thể dục thể thao, trong một lần đi câu, bị con cá mập mắc câu lôi xuống nước, sau mươi phút chiến đấu một mất một còn, anh ta hạ được con cá bằng nhiều nhát dao nhưng cũng bị nó cắn nát chân phải. Vì thân nhân ở tiểu bang khác nên phải vào đây nghỉ dưỡng. Gã trung niên người Việt, vui tính, hiếu động, trêu chọc đôi lúc khá thô bạo các y tá, thường ba hoa (nhiều phần cường điệu) những cuộc đi câu dài ngày, một mình giữa trời biển mênh mông, có khi sóng êm bể lặng, có lúc bất ngờ bão to gió lớn, có lần phải vật lộn hàng giờ sống chết với những loại cá to hung tợn.

“Bác biết không, toi mạng như chơi nhưng thú lắm”, anh ta nói kèm nụ cười tự mãn.

Giường bên trái là một ông già tóc bạc trắng, ốm, da đồi mồi, giọng nói ngọng. Ông già là chủ một Liquor, nghiện rượu, lúc chưa bị tai biến, ngày nào cũng phải ít nhất hai phần ba chai cô-nhắc. Nửa phần bên trái của ông ta bất khiển dụng, nên dù chưa ngồi xe lăn, song bước chân đi kiểu chấm phẩy. Tuy phát âm khó khăn, ông già vẫn ham nói, người nghe phải chú ý và đoán mới hiểu.

“Bọn homeless thường xuyên vào xin thuốc lá, bịch chip, cái donut, hoặc lon nước ngọt, khúc sandwich kẹp hotdog. Không cho không được, đêm chúng trây trét phân lên cửa kính, cách trả thù thầm lặng mà thâm.”

Ông già tặc lưỡi,

“Thà mất chút đỉnh còn hơn phải lau chùi, vừa tốn thì giờ vừa tởm.”

Giường đối diện là một bà Mỹ trắng, dễ chừng đã trên dưới tám mươi nhưng vẫn chăm chỉ phấn son hàng ngày. Bà không chồng, có cô con gái hình như cùng nghề với mẹ, cũng body bốc lửa, hai trái vú như hai quả dừa xiêm, muốn nhảy chồm khỏi cổ áo pull. Trung bình hai tuần một lần vào thăm mẹ, qua quýt vài lời hỏi han lấy lệ rồi dông. Bà ta bảo, hồi còn trẻ, bà là vũ công múa cột xuất sắc của một Night Club.

“Có phải các Night Club đường H.?”

“Yes, what do you know?”

Ông già không đánh cũng khai,

“Thuở xưa tôi thường đến.”

Tuy các Night Club này chỉ khỏa thân năm mươi phần trăm thôi, nhưng vẫn rất hấp dẫn, vũ công sở hữu một thân thể, rất mời gọi chiếu chăn.

Thường, sau mỗi lần ra khỏi cửa, thể nào ông già cũng mò đến động quen cách hộp đêm chừng hai dặm, cùng con đường, do người Việt Nam làm chủ, để tìm chút “tươi mát”, dù ngày đó vợ ông già còn trẻ, nhan sắc chưa tàn phai. Bọn đàn ông hầu hết đều thế, phở ngon hơn cơm!

Hai người nữa. Một ông Ấn Độ, chủ nhân một Motel loại tầm tầm, ở địa phận nổi tiếng nhiều băng đảng và gái ăn sương. Ông ta bảo, tuy dữ dằn thế vẫn khá tốt, vì nhờ bọn đầu trộm đuôi cướp bảo kê, tốn kém nhưng so ra vẫn còn lời chán. Bọn gái ăn sương thuê phòng không dám dở trò quỵt tiền, hơn thế, nếu bắt được những con mồi sộp, các em thường “lại quả” hào phóng.

Việt Nam có câu “sang như đĩ”, quả không sai.

Bà còn lại, gốc Phi, thiếu thước và tròn quay như bao gạo trăm ký, đi đứng lạch bạch, luôn miệng nhóp nhép các loại chip, khoai tây, lúa mạch, bắp, và lãng tai trầm trọng, mỗi lần muốn trò chuyện phải nói như hét. Bà ta có anh con trai rất hiếu thảo, mỗi chiều luôn vào thăm, không quên mang food to go và các thức ăn vặt theo yêu cầu của mẹ, vì she không ăn được món Mỹ. Anh ta than không thể để mẹ ở nhà vì còn độc thân, lại phải đi làm.

“Lúc còn khỏe my mom chu toàn mọi thứ, chợ búa, nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp cửa nhà. Từ ngày she bị tai biến me phải tự lo thân, cơm hàng cháo chợ, ngán tận cổ, đành chịu.” Anh con trai thở dài cám cảnh.
 
Khu Nursing Home này được nhà nước bao cấp. Hầu hết thuộc thành phần lao động, thu nhập dưới trung bình, thường ăn trợ cấp hoặc như ông già, bảo hiểm thấp. Tuy vậy, nhìn chung, ông già cảm thấy vui, nghĩ chắc chắn sẽ hơn nhiều, nếu phải sang ở với vợ chồng thằng con trai, cơm nước có thể hợp khẩu vị, nhưng tuổi già, ẩm thực không quan trọng, cái quan trọng là không phải vò võ cô quạnh.
 
Mưa vẫn rơi tuy không lớn nhưng dai dẳng chẳng khác mùa đông ở quê nhà, hiện tượng bất thường so với thời gian trước. Vài năm gần đây, theo các nhà khí tượng học do tác động khí thải nhà kính, trái đất nóng lên, hành tinh của chúng ta nói chung, California nói riêng, nạn động đất, thời tiết thay đổi khó lường. Lúc thì hạn hán, cháy rừng, khi thì mưa dầm sùi sụt, lũ lụt, đất chuồi. Nếu không sớm tìm giải pháp khắc phục, nguy cơ động đất, sóng thần sẽ xảy ra khắp nơi, và có thể nhiều quốc gia ven biển, Việt Nam chẳng hạn, sẽ đối diện với nạn mất đất hoặc đất nhiễm mặn không thể canh tác, vì khí hậu nóng lên, băng tan ở bắc cực khiến nước biển dâng cao. Thảm trạng đói kém do thiên tai hoặc con người gây nên (chiến tranh hạt nhân, ví dụ), sẽ đẩy nhân loại vào cảnh khốn cùng, diệt vong. Ông già nghĩ, bốn tỷ rưỡi năm trôi qua, từ lúc trái đất khai sinh, đã có vô số biến thiên, thậm chí, nhiều nền văn minh bị xóa sạch, định luật vô thường tái đi tái lại không biết bao nhiêu lần, sá gì vài ba kiếp người cỏn con!

Nói theo triết học đông phương, có sinh ắt có diệt, có thịnh ắt có suy, có thành ắt có bại, chuyện tất nhiên, như thời tiết bốn mùa. Hết mưa đến nắng, hết đông sang xuân, vòng tuần hoàn bất tận từ vô thủy đến vô chung, hơi đâu toan tính sâu xa, khéo lo con bò trắng răng!

Trời đã sáng hẳn, đồng hồ treo tường gõ tám tiếng. Ngày mới bắt đầu với mọi sinh hoạt bất biến. Ông già nghe thấy tiếng động quen thuộc ngoài hành lang, y công đang đi gom rác, thức ăn thừa chứa trong các thùng nhựa lớn đặt trước mỗi phòng, và thay ra, bao gối hay quần áo dơ cho người nào cần giúp. Cũng là giờ y tá đẩy xe thuốc đến từng giường.

Ngày mai chủ nhật, sẽ có nhóm thiện nguyện thuộc đại học cộng đồng thành phố sở tại vào ủy lạo, có cả trình diễn văn nghệ do các sinh viên đảm trách. Bà manager cho biết hồi chiều.
 
(còn tiếp)
Khánh Trường
 

Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống Cũng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
Nhưng tháng tư, dân tộc đã kiệt sức. Những người đẹp nhất từ hai phía đã chết. Còn lại, bọn tầm thường chúng ta. Khi dòng sông khô cạn, bầu trời thăm thẳm không gợn mây, cỏ cháy khô từ ngọn đến gốc, nhiều ngày không mưa, khi một xác chết nằm vắt qua đường ray xe lửa khô đi dưới nắng hạn chuyển màu đen nhưng không thối rữa, lẽ ra chúng ta phải biết mọi chuyện sắp kết thúc.
Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.