Hôm nay,  

Trán Dô

28/02/202500:00:00(Xem: 4318)

Thẻ sv HTNT
Cô nhà văn Hoàng Quân, tự xưng là đại diện “Hội Những Người Trán Dồ Yêu Lung Tung”, tự xưng luôn là có cùng ngày sinh nhật với một ông trán dồ nổi tiếng là ông Albert Einstein, ngày 14/3, có gửi mail yêu cầu tôi viết về trán dồ để hy vọng “trán dồ sẽ góp mặt trong mười…một thương”. Tôi nể ông Einstein nên phóng bút.

Trán dồ hay trán dô là cùng một category trán…phi trường. Trán là khu vực nằm từ chân lông mày cho tới chân tóc. Trán bình thường chiếm khoảng 1/3 chiều dài gương mặt. Trán dô lấn sân hơn, vượt qua kích thước thông thường khiến khuôn mặt mất cân đối, kém hài hòa. Nếu nhìn ngang, người ta sẽ thấy phần xương trán của những người trán dô nhô lên cao. Vậy nên nhà văn Hoàng Quân không nên chụp hình profile!

Cái phần dô lên cao này khiến những người trán dô không nằm trong loại người có trán cao. Hai thứ khác nhau tuy cùng thuộc category “rửa mặt thì lâu, chải đầu thì lẹ”. Trán cao có bề ngang rộng, phẳng nhưng có bề cao trung bình. Nói theo phép đo lường thì nếu trán có chiều cao dài hơn một nửa chiều dài của mặt thì gọi là trán cao.

Ngoài hai loại trán dô và trán cao còn có trán hói. Trán hói rất dễ nhận ra. Cứ nhìn vào chân tóc là biết liền. Nếu chân tóc có hình chữ M, nghĩa là hai bên mép trán trống trải không có tóc thì đích thị là hói.

Trong bài này chúng ta chỉ nói về trán dô. Nói cho nhà văn Hoàng Quân mừng, phụ nữ có trán dô là người được ông trời ban cho có trí tuệ hơn người, đầu óc nhạy bén, giỏi giao thiệp. Họ biết sắp xếp cuộc sống của họ một cách có quy củ. Sở hữu tính quyết đoán nên họ luôn tính toán mọi việc  một cách chu toàn nhất. Đó là điểm cộng. Điểm nổi bật khác, không biết cộng hay trừ, là tính tình khó khăn và bướng bỉnh. Ngày xưa, thấy một anh hay chị nhóc có trán dô, các cụ phán ngay là bướng bỉnh, khó dạy. Có lẽ hồi đó các cụ nhiễm nặng vào sự suy đoán do tiền nhân truyền lại nên rất khắt khe. Đâu có phải cứ trán dô là bướng bỉnh khó dạy. Nhiều tên không dô trán cũng khó dạy dàn trời.

Khi ra đời, nếu đi làm, phụ nữ trán dô là những viên ngọc quý trong công tư sở. Họ biết tận dụng mọi cơ hội để biến chúng thành vũ khí đắc lực để phát triển công việc. Nếu làm chủ thì rất cương quyết, khó khăn tới đâu cũng cứ tiến tới, nhất định không bỏ cuộc. Nhờ vậy mà họ thường có hậu vận tốt đẹp, cuộc sống sung túc, có địa vị và vai vế trong xã hội. Đó là điểm cộng. Về chuyện tình cảm, họ có cái tôi khá cao, nên nếu không tự chế, chuyện tình duyên và gia đạo không tránh khỏi những mâu thuẫn đưa đến những cãi vã, có thể dẫn đến cảnh “anh đi đường anh, tôi đường tôi”.

Mấy ông có trán dô thường là những người điềm tĩnh trong mọi tình huống. Họ chịu khó học hỏi. giàu ý chí, nghị lực, không đầu hàng số phận, luôn tìm cách vượt qua khó khăn. Với tính cách lanh lợi, đầu óc thông minh và có tầm nhìn xa trông rộng, họ rất giỏi trong việc lãnh đạo và chỉ huy. Nhược điểm của những ông trán dô là bướng bỉnh, đôi khi khá bảo thủ, khư khư giữ ý kiến của mình, không chịu nghe các góp ý của người khác. Nhiều khi họ cố chấp một cách đáng ghét.

Người sở hữu vầng trán cao, rộng có tài kinh doanh, có ý chí làm giầu mạnh mẽ, thường là những doanh nhân thành đạt. Cứ nhìn vào trán của các ông Elon Musk, Jeff Bezos, Mark Zuckerberg, Bill Gates khắc biết.

Theo các nhà phong thủy, khuôn mặt được coi là “bản đồ” vận mệnh của một đời người. Một khuôn mặt có thể được coi là sáng rỡ hay tối tăm dựa vào “núi” và “sông” trên đó. Người sở hữu khuôn mặt cân đối có khả năng thu hút nhiều tài lộc và những điều tốt lành tới với cuộc sống của họ. Ngược lại, khuôn mặt không cân đối, nhiều khuyết điểm không mang lại nhiều vận may cho chủ nhân của nó.

Khi đối chiếu với khuôn mặt của 100 tỷ phú giầu nhất thế giới, các nhà phong thủy thấy họ có nhiều điểm tương đồng mang lại tài lộc cho bản thân họ. Năm đặc điểm đó là: mặt chữ điền; trán cao, rộng; mũi tròn, thẳng; môi đầy đặn, hồng hào; cằm tròn, đầy đặn.

Phần lớn các tỷ phú đều có khuôn mặt vuông chữ điền. Theo nhân tướng học, mặt chữ điền tượng trưng cho sự quyết đoán, linh hoạt và ổn định. Hai tỷ phú Warren Buffett và Carlos Slim là ví dụ điển hình nhất.

Trán là biểu tượng của sự may mắn và được coi là “ngọn núi vượng khí đầu tiên” trên khuôn mặt. Trán nhẵn, tròn và rộng mang tới quyền lực, vận may và tiền tài.

Mũi được coi là một trong những “con sông” mang lại tiền tài. Theo phong thủy, mũi lý tưởng là mũi tròn và đầy đặn. Càng tròn và càng đầy đặn thì càng nhiều may mắn. Nếu mũi cân đối, không cong vẹo là mũi ngon lành, rất nhiều may mắn. Đối chiếu với mũi của các tỷ phú, chúng ta thấy có hai kiểu mũi đặc trưng mà nhiều tỷ phú sở hữu. Kiểu thứ nhất là chóp mũi khá lớn so với phần còn lại của mũi. Chóp mũi phải thẳng. Tỷ phú Bill Gates có chiếc mũi quý hóa này. Kiểu thứ hai là cả chóp mũi lẫn cánh mũi đều đầy đặn. Đây là kiểu mũi của người quyết đoán, biết nắm bắt cơ hội. Tỷ phú Warren Buffett có kiểu mũi này.

Miệng là “dòng sông” thứ hai trên khuôn mặt. Người sở hữu đôi môi hồng hào, đầy đặn, căng mọng có khả năng thu hút tài lộc. Môi không khô, nứt nẻ mới tốt vì nếu khô thì “dòng sông” bị khô hạn, không còn sự may mắn.

Cuối cùng là cằm. Đây là “ngọn núi” thứ hai của khuôn mặt. Vẫn theo phong thủy, cằm tròn, đầy đặn và rõ nét là dấu hiệu của sự may mắn và khả năng lãnh đạo. Nơi quý ông, đường viền cằm rõ nét thể hiện cá tính mạnh mẽ. Ông chủ hãng thời trang Zara, Amancio Ortega, và nhà đồng sáng lập Google, Larry Page, đều sở hữu chiếc cằm này.

Theo phong thủy, năm điểm trên là điểm tương đồng của các nhà tỷ phú, những người thành công trong sự nghiệp và sở hữu số tài sản kếch xù. Đó là một combo của thành công và may mắn. Ông nhà thơ Quan Dương có bài thơ “Tóc - Tai - Mũi - Họng” xem ra cùng nhịp bước với cuộc điểm danh các bộ phận trên mặt. Ông nói tới hai nhân tố phong thủy nhắc tới trên “núi và sông” của khuôn mặt là “mũi” và “họng”.

Trèo lên sóng mũi dọc dừa
Sẩy chân chợt té xuống bờ môi em
Té nhằm ngay chỗ trăm năm
Bị em đóng một dấu hằn hẳn hoi
.....
Ngậm trong họng ngụm bồi hồi
Giọt cà phê rớt trúng nơi chứa tình
Ghế bàn đang đứng lặng thinh
Bỗng nhiên đột ngột thình lình tung bay

Thiệt là thiếu sót! Thiếu sót dã man nhất là ông lơ đi cái trán. Nó chình ình ngay trên khuôn mặt, nằm ngay dưới chân tóc. Ông thơ về tóc rồi quẹo qua tai, xong xuôi Nam xuống mũi và họng. Bản đồ sông núi trên mặt bị một lỗ thủng to. Nhưng chả trách ông được, ông đâu có là nhà phong thủy. Ông là một người tình. Người tình trăm năm vì thơ ông là một trời tình. Tình chảy suốt một đời thơ.

Trách ông Quan Dương quên cái trán cũng tội cho nhà thơ vì thực ra cái trán nằm chình ình một vầng nhưng là một bộ phận không được trọng dụng trong thơ văn. Nó trơ trơ như các cụ diễn tả “mặt trơ trán bóng”. Vậy nên những người sở hữu trán dô cũng chán cho phận mình. Chỉ được chút an ủi là ông Thọ trong bộ Tam Đa có chiếc trán dô đặc trưng được tô hình tạc tượng cho bàn dân thiên hạ thỉnh về thờ.

Lang thang trên mạng, tôi đọc được nỗi niềm của một cô gái có cái trán dô. “Con gái đúng là trăm ngàn nỗi khổ, và trán dô hay trán "sân bay" là một trong số đó. Người ta thường nói, con gái trán dô thì thông minh, uyên bác rồi giàu sang đủ kiểu. Nhưng sự thật mất lòng, giỏi giang, lợi lộc ở đâu không biết, chỉ biết là vầng trán "sân bay" ấy làm khổ con gái đủ đường luôn. Kể sơ sơ ra cũng được cả một list nỗi khổ: chưa thấy người đã thấy trán, để kiểu tóc gì cũng thấy vô lý đùng đùng rồi thì trời nóng cũng phải để mái không dám vén lên sợ người ta lóa mắt trước cái trán cao đến quá đáng của mình”.

Cô nàng Thiên Di, sanh năm 1996, là ca sĩ kiêm biên đạo biểu diễn, quê ở Quảng Trị, than khổ than sở về cái trán dô của mình. “Cái trán của mình trông như cái đầu luôn các bạn ạ, chán lắm. Đầu thì có thể không gội chứ mái tóc thì mình không bỏ sót ngày nào. Nhỏ đến giờ, mình chỉ ước trán mình được bình thường như bao người khác để có thể làm đủ kiểu tóc mình thích...Mình đã thử thay đổi rất nhiều kiểu tóc nhưng kết quả mặt vẫn trông tếu lắm, không ai chấp nhận được. Mà chắc da trán mình dày nên bôi đủ thứ thuốc tóc vẫn không mọc lên”. Thời mà Quảng Trị, quê hương của cô nàng Thiên Di, chưa có sân bay, cô bị bạn bè đùa vui là tỉnh chẳng cần xây cất sân bay làm chi vì đã có sẵn rồi!

Buồn làm chi hỡi các nàng trán dô. Phía đối lập thân mến vẫn có người thích và yêu những cô nàng trán sân bay. Như anh chàng Lạc Hi thổ lộ trên mạng. “Trán dô à, dù bướng em vẫn là con gái, nhớ không? Và chắc chắn ở đâu đó đang có người chờ đợi để được ở cạnh em, và yêu em dài lâu, dù có chuyện gì đi nữa. Người đó có thể là anh và cũng có thể là người khác. Nhưng có một điều không thể phủ nhận, là dù em có đang tự ti với mình nhiều như thế nào, thì sẽ luôn có một người yêu em - yêu những gì thuộc về em rất chân thành! Vậy nên, anh yêu em nhiều lắm, "Trán dô" của anh!”

Sau khi thấy ông Quan Dương thờ ơ với cái trán trong thơ của ông, tôi có mail hỏi coi ông có bao giờ héo lánh tới cái trán dô chưa, ông trả lời: “Vụ trán dồ này thì em cùi rồi”.

Ông nhà thơ Luân Hoán không cùi. Thơ lục phủ ngũ tạng ông còn có huống chi thơ về cái trán sờ sờ trước mắt. Ông thảy cho tôi bài “Phiến Trán Cao”.

mắt thanh mày liễu còn tùy
mái thềm thoáng rộng phương phi đỡ đầu
vẻ ngoài trí tuệ ngự đâu?
nhìn qua thoáng biết nông sâu chân tài
tóc mây cùng với tóc mai
tạo thanh tú cõi trang đài sáp ong
như trang sách chép chuyện lòng
thánh thư vô tự mênh mông rạng ngời
thơ nằm trên thạch bích phơi
man man tâm sự ngàn lời vô ngôn
bước đầu ngượng ngịu môi hôn
lên vùng thánh thoát trải hồn thương yêu

trán em bọc lụa mỹ miều
môi tình dán nhẹ bao nhiêu cho đầy
hôn em tinh khiết nơi này
hẹn che chở mãi tháng ngày có nhau

Còn một người trai trẻ, bật mí ngay đó là con trai của nhà văn Hoàng Quân, đã rất thực dụng khi thấy ích lợi của cái trán dô của mẹ: “Nếu mẹ lỡ đâm sầm vào cửa kính, cái mũi vẫn an toàn vì đã có cái trán đỡ hết rồi!”

Song Thao
 

Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống Cũng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
Nhưng tháng tư, dân tộc đã kiệt sức. Những người đẹp nhất từ hai phía đã chết. Còn lại, bọn tầm thường chúng ta. Khi dòng sông khô cạn, bầu trời thăm thẳm không gợn mây, cỏ cháy khô từ ngọn đến gốc, nhiều ngày không mưa, khi một xác chết nằm vắt qua đường ray xe lửa khô đi dưới nắng hạn chuyển màu đen nhưng không thối rữa, lẽ ra chúng ta phải biết mọi chuyện sắp kết thúc.
Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.