Hôm nay,  

Những ngày vô cảm ở góc bàn cờ

24/07/202600:00:00(Xem: 271)
 nhung ngay vo cam
 
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?

Chắc chắn là thơ vì nó hội đủ trí tuệ, cảm xúc và ký hiệu & ngôn ngữ. Đúng cho cả hai định nghĩa:

Thơ cụ thể: một bài thơ trong đó chính con chữ và cách trình bày chúng trên trang giấy tạo thành một phần ý nghĩa. Chữ nghĩa của bài thơ được sắp xếp thành hình dạng, thường bằng cách lặp, cắt, dán, hoặc bố trí khác thường, để hình thù thị giác của chữ nói lên điều mà câu cú thông thường không nói được. Chất liệu luôn là ngôn ngữ của chính bài thơ.

Thơ thị giác: khái niệm rộng hơn, một bài thơ trong đó hình ảnh, ký hiệu, hoặc chất liệu thị giác đóng vai trò ngang hàng hoặc quan trọng hơn cả chữ viết, và chất liệu đó có thể đến từ bên ngoài ngôn ngữ của bài thơ, sơ đồ có sẵn, hình ảnh mượn, con dấu, bản vẽ. Thơ cụ thể là một nhánh nằm bên trong khái niệm thơ thị giác.

Người Việt ít quan tâm về loại thơ này vì nó không có logic, vì nó giống như giỡn chơi, mà người Việt đọc thơ ít thích động não, lại khinh thường những trò vay mượn gây rối, và trên hết, người Việt ít ưa cái mới. Cái mới cái lạ khó xâm nhập vào tâm trí đóng băng khi đã yêu và bảo vệ cái cũ.

Nhà thơ chắc chắn biết rõ vấn nạn cũ và mới này nhưng ông vẫn chọn vui với cái mới lạ, cái ít người thích, cái mà một hệ thống hiểu biết lớn của văn học Việt chưa thu nhập. Và Những ngày vô cảm cũng là tựa đề của tập thơ, cho thấy ông yêu thích bài thơ này để dùng nó đại diện và biểu tượng.

Bàn cờ không đối thủ

Bài thơ này gần như không có chữ. Chỉ có tên, Những Ngày Vô Cảm, rồi sau đó là một sơ đồ cờ tướng dựng bằng phần mềm đồ họa máy tính thời kỳ đầu, phần lớn diện tích bị lấp kín bởi hàng chục quân tốt giống hệt nhau xếp thành khối dày đặc, và ở góc dưới bên phải, gần khung ô vuông của cung tướng, chỉ một quân duy nhất khác biệt, quân mã, đang ở đúng thế bị cản chân theo luật cờ tướng, bị chặn đường đi không phải bởi một quân địch mạnh hơn, mà bởi chính sự vây quanh của những quân tốt tầm thường của phe ta. Phe trắng, phe thường tự xưng sạch, sáng, chính nghĩa.  

Bài thơ xuất hiện năm 1996 trên tạp chí Thơ, cùng đợt với những thử nghiệm đồ họa đầu tiên của nhóm Tiền Vệ, giữa lúc phần lớn thơ hải ngoại vẫn còn nói bằng chữ, bằng câu, bằng nỗi nhớ quê hương được kể lại qua ẩn dụ ngôn từ. Nguyễn Hoàng Nam chọn một con đường khác hẳn, ông không kể nỗi đau, ông vẽ ra cấu trúc của chính sự tê liệt.

Cái tên tập thơ và hình thức bài thơ khớp với nhau chặt đến mức khó tin là ngẫu nhiên. Vô cảm không phải là trạng thái không có cảm xúc, nó là một cơ chế phòng vệ, nơi cảm xúc bị đông cứng lại và chỉ còn có thể được xử lý gián tiếp, qua một hệ thống trung gian lạnh lùng, thay vì được gọi thẳng tên bằng nước mắt hay bằng lời than. Một người từng chứng kiến quá nhiều mất mát, nghặt nghèo, vây khốn đến độ ngôn ngữ cảm xúc thông thường không còn đủ sức chứa nữa, thường có xu hướng lùi về một hình thức biểu tượng có luật lệ, khách quan, có thể phân tích được từ bên ngoài, như thể chỉ bằng cách biến nỗi đau thành một thế cờ, người ta mới đủ khoảng cách an toàn để nhìn thẳng vào nó. Vì vậy bài thơ này không mô tả sự tê liệt cảm xúc bằng lời, nó chính là sự tê liệt cảm xúc, chuyển hóa hoàn toàn thành hình thức, và đây có lẽ là điều tinh nhạy nhất mà Nguyễn Hoàng Nam đã làm được, phiền muộn đến mức không viết nổi một câu than, chỉ còn có thể xếp quân cờ.

Ngựa hí tại chỗ

Con mã trên bàn cờ tướng đại diện trí tuệ linh hoạt. Tôi nghĩ quân mã trong bài thơ đại diện rất chính xác cho mẫu người trí thức hoặc người có năng lực, có tầm nhìn, từng có khả năng xoay xở linh hoạt, thậm chí từng vượt qua được những ranh giới mà người khác không vượt qua nổi. Nhưng sau biến hóa đó, năng lực linh hoạt ấy không hề bị đánh bại bởi một đối thủ ngang tầm, nó bị vô hiệu hóa chỉ bởi những thứ vụn vặt, tầm thường, mang tính thủ tục, hồ sơ không được công nhận, bằng cấp không có giá trị ở nơi mới, ngôn ngữ mới không đủ để phát huy năng lực cũ, đúng như cách một quân tốt bình thường lại đủ sức khóa cứng một quân mã từng linh hoạt nhất bàn cờ. Đây chính là hình ảnh rất gần với mẫu người mà văn học hải ngoại sau 1975 hay gọi là anh hùng mạt vận, người từng có bản lĩnh thật sự nhưng rơi vào hoàn cảnh khiến bản lĩnh ấy trở nên vô dụng, không phải vì thiếu tài, mà vì bị bao vây bởi chính sự tầm thường của hoàn cảnh mới.

Con mã trong bài thơ nằm ngay biên thành nhưng kẹt cứng ba bề bởi những quân Tốt tầm thường chưa sang sông, mã chỉ có thể quay lại che chở tướng, nhân vật này cũng không lối thoát

Đây là một hình ảnh chính xác về cách quyền lực thực sự vận hành trong đời sống, không cần một bạo chúa đứng ra ra lệnh giam giữ ai cả, chỉ cần một mật độ đủ dày của những thứ tầm thường, vô danh, lặp lại, được sắp xếp đúng chỗ, là đủ sức khóa cứng một năng lực từng được xem là vượt trội.
Một cỗ máy quyền lực hiệu quả nhất không phải là cỗ máy có một kẻ độc tài cầm gươm đứng canh, mà là một cấu hình gồm vô số điều nhỏ nhặt, những con tốt vô danh, tự chúng không có ý chí, không có ác tâm, nhưng cộng dồn lại đủ sức giam cứng bất cứ ai, kể cả người từng có khả năng đi xa nhất trên bàn cờ. Đọc theo hướng này, quân mã kẹt góc không tượng trưng cho một cá nhân bị đàn áp bởi một chế độ cụ thể, nó tượng trưng cho bất cứ ai, ở bất cứ thời nào, từng cảm thấy tài năng hay ý chí của mình bị vô hiệu hóa không phải bởi một kẻ thù xứng tầm, mà bởi chính khối lượng khổng lồ của sự tầm thường vây quanh. Cảm giác này hầu như đúng cho những nam nhi hào khi đang nghẹt thở vẫy vùng trong giai đoạn đó. Như Vũ Hoàng Chương đã nói: Lủ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ. Còn đâu mã đáo thành công. Một giấc mơ đầy cảm thán.

Thơ dành cho não sống

Ngoài đời có nhiều câu nói ý nhị, suy gẫm mới đau. Người ta nói: sống mà như đã chết. Khi não bộ không còn sinh hoạt đúng nghĩa, những vùng não nở ra sáng tạo, suy tư, siêu cảm nhận tê liệt hoặc xìu ểnh, thì phần thấp kém còn lại của não tiến lên nắm chủ quyền thành lập xác người biết đi. Zombie.
Để thưởng thức, để cảm nhận loại thơ này, người đọc ngoại trừ động não còn phải thích thú với những gì não tìm thấy mà người khác chưa chắc đã thấy. Bài thơ này không cung cấp một chữ giải thích, toàn bộ gánh nặng diễn giải đặt hết lên vai người đọc, đây là một lựa chọn hình thức tối cực, đẩy xa hơn nhiều so với việc chỉ để lại vài khoảng trống ngầm trong câu chữ như phần lớn thơ hiện đại vẫn làm.

Để đọc được bài thơ này, người đọc buộc phải mang theo sẵn một loại tri thức rất cụ thể, phải nhận ra được chữ Hán tốt và chữ Hán mã, phải thông luật cờ tướng đủ để nhận ra thế cản chân, và phải nắm được lớp nghĩa bóng đã ăn sâu vào tiếng Việt quanh hai quân cờ này, tốt đen gắn liền với thân phận kẻ thấp hèn bị đem ra thí bỏ trong một ván cờ lớn hơn mình, còn hình ảnh một quân cờ có tài bị kẹt cứng gợi ngay đến cụm từ anh hùng bó tay. Một người không mang theo đúng loại tri thức ấy sẽ chỉ nhìn thấy một hoa văn hình học khá đẹp mắt, hoàn toàn đánh mất tầng nghĩa cốt lõi đang nằm bên dưới.
Nói cách khác, bài thơ tự dựng lên một hàng rào tuyển lựa độc giả khó ngay trong chính cấu trúc của nó, nó không viết cho bất cứ ai tình cờ lướt qua, nó chỉ thực sự mở ra cho một người vừa đọc được chữ Hán, vừa hiểu luật cờ tướng, vừa sống trong đúng tầng nghĩa bóng của tiếng Việt về thân phận con tốt và người anh hùng sa cơ, một sự kén chọn độc giả khắt khe hơn hẳn so với phần lớn thơ hải ngoại cùng thời vốn chỉ cần người đọc thông thạo tiếng Việt và lười suy nghĩ là đủ.

Bị vây nổi loạn


Đặt bài thơ vào đúng thời điểm nó xuất hiện sẽ thấy rõ hơn giá trị của cử chỉ này. Lúc tập thơ và bài thơ này ra đời, phần lớn thơ hải ngoại vẫn nằm trong quỹ đạo thơ mới viết mà đã cũ. Việc Nguyễn Hoàng Nam công bố một bài thơ dạng bàn cờ tướng nhưng với những bố trí khác, là một hành động chủ động đập vỡ đúng cái khuôn mẫu mà độc giả hải ngoại đương thời đang không chờ đợi từ một bài thơ. Giá trị cách tân của nó nằm chính ở khoảng cách rất lớn giữa cái người đọc quen thuộc tưởng sẽ nhận được và cái họ thực sự nhận được, một khoảng lệch đủ mạnh để buộc toàn hướng khái niệm thơ hải ngoại phải tự vấn lại chính mình, không thể mãi đóng khung trong hai cực quen thuộc, một bên là nỗi nhớ trữ tình, một bên là lời chính luận chống đối trực diện, mà còn có thể mở ra một cực thứ ba, thuần hình thức, thuần thị giác, nơi nỗi đau không cần phải kể ra bằng lời mới được xem là đau thật.

Nhìn xa hơn một chút, khối lượng quân tốt dày đặc, đồng phục, không thể phân biệt cá thể này còn gợi lên một điều đáng suy nghĩ về bạo lực của đám đông, cái gọi là đa số. Đa số thuộc về tầm thường, thiểu số thuộc về thiên thần hay ác quỉ.

Mỗi quân tốt tự nó vô hại, chỉ được phép tiến từng bước ngắn, không có khả năng lùi, không có khả năng chọn hướng khác. Nhưng khi hàng chục quân tốt như vậy được xếp sát nhau thành một khối đặc kín, chính khối đặc đó tạo ra một lực cản đủ sức giam giữ một năng lực từng xung đột tả hữu trên bàn cờ. Đây là một hình ảnh rất gần với cách các thiết chế lớn, một bộ máy hành chính, một guồng máy chiến tranh, một hệ thống xử lý người tị nạn thành hồ sơ số, vận hành trong đời thực, không ai trong guồng máy đó là ác nhân, mỗi người chỉ đang làm đúng phần việc nhỏ được giao, nhưng cộng dồn lại, chính sự lặp lại vô cảm của hàng loạt phần việc nhỏ ấy mới là thứ thực sự giam cứng một cá nhân, chứ không phải một quyết định độc ác nào cụ thể.
Áp lực bên ngoài tuy mạnh nhưng không ghê bằng áp lực bên trong. Khi người bị vây chận lâu ngày, họ trở thành có thói quen tuân thủ theo những gì đám đông đặt ra. Dần dần họ cũng bị nhiễm độc biến nên Zombie. Nhà thơ cũng bị nhiễm độc, làm thơ theo đám đông để được đám đông tung hô. Nguyễn Hoàng Nam thoát, trốn ra.

Dàn quân cờ chơi với vắng mặt

Ngay sát quân mã, trong đúng khu vực ô vuông của cung tướng, có một vòng tròn để trắng, không mang bất cứ ký tự nào. Con cờ không có mặt chiếm một vị trí thật trên khung, có tọa độ, có không gian riêng, nhưng hoàn toàn trống rỗng bên trong, một sự có mặt không mang nội dung, một chỗ đứng không có danh tính đi kèm và chỗ đó kẹt cứng, góc tận.

Đây đúng là hiện tượng gần với khái niệm khoảng trống của Wolfgang Iser, nhưng nếu nhìn kỹ, nó còn đi xa hơn lý thuyết của ông một bước. Với Iser, khoảng trống trong một văn bản văn học là chỗ ngôn ngữ cố tình không nói ra, một sự vắng mặt thuần túy mà người đọc phải tự lấp đầy bằng tưởng tượng của mình trong lúc đọc. Nhưng ở đây, sự trống rỗng này không còn là một khoảng lặng vô hình giữa các câu chữ, nó đã được cho một thân thể, một đường viền, một vị trí cụ thể ngay trên mặt bàn cờ.

Nói cách khác, Nguyễn Hoàng Nam không chỉ để lại một khoảng trống theo kiểu Iser, ông vẽ hẳn ra hình dạng của chính sự trống rỗng đó, biến cái vô hình thành một quân cờ có thật. Đúng, có mặt mà vắng mặt. Đây là một bước đi táo bạo hơn cả lý thuyết tiếp nhận của Iser, vì nó không chỉ mời người đọc lấp đầy khoảng trống bằng suy diễn, nó còn buộc người đọc phải đối diện trực tiếp với hình hài của chính sự trống rỗng ấy như một nhân vật hiện diện ngay trước mắt.

Nếu đặt cạnh hai quân cờ kia sẽ thấy một bậc thang rất rõ ràng. Quân tốt có tên nhưng không có cá thể, một danh xưng chung cho một đám đông không phân biệt. Quân mã có tên và có cá thể, một chủ thể riêng biệt dù đang bị giam. Còn vòng tròn trắng thì không có cả tên lẫn cá thể, nó đứng ở bậc thấp nhất trong thang bậc hiện hữu này, thấp hơn cả thân phận con tốt vô danh. Đây có thể là hình ảnh về một điều còn tệ hơn cả việc bị đối xử như một đơn vị có thể thay thế trong đám đông, đó là bị tước mất luôn cả tư cách được gọi tên, một sự xóa sổ triệt để hơn nhiều so với sự vô danh thông thường của đám đông tốt. Nó có thể là hình ảnh của người đã chết, của một tương lai chưa từng được phép xảy ra, hoặc, và tôi nghĩ đây là khả năng đáng chú ý nhất, chính là hình ảnh tự họa của người viết, một cái tôi đã vô cảm đến mức không còn đủ sức tự khắc tên mình lên bàn cờ nữa, chỉ còn có thể hiện diện như một khoảng trắng câm lặng bên cạnh chính nỗi trống đau của mình.

Cái vắng mặt thứ hai còn đáng sợ hơn, tôi nghĩ đây mới là chìa khóa thực sự của toàn bộ bài thơ: trên bàn cờ này không hề có một quân địch nào. Cờ tướng, tự bản chất, là một trò chơi cần hai phe đối lập mới có ý nghĩa, một bên tốt đen, một bên phải có quân đỏ đối kháng để tạo thành thế trận. Nhưng ở đây, toàn bộ khung hình chỉ có một phía, tốt của một bên, mã của cùng bên đó, và không hề có bóng dáng một quân đỏ nào xuất hiện để đối đầu. Nếu quân mã đang bị cản chân, câu hỏi bắt buộc phải đặt ra là, cản bởi ai, vì mục đích gì, để phục vụ cho một cuộc chiến chống lại ai. Và câu trả lời mà bức hình đưa ra, bằng chính sự vắng mặt của nó, là không có ai cả. Không có địch thủ nào được vẽ ra để biện minh cho thế trận giam giữ này. Quân mã không bị chặn bởi kẻ thù, nó bị chặn bởi chính quân mình, chính đồng đội của nó, chính cái khối tốt đông đảo cùng một phía với nó.

Đây là một cú đảo rất biến nếu đọc theo hướng chính trị và lịch sử. Một bàn cờ chiến tranh mà không có kẻ địch hiện diện có nghĩa là toàn bộ tấn bi kịch giam cầm, bất động, tê liệt đang diễn ra không đến từ một thế lực đối kháng bên ngoài, nó đến từ chính nội bộ một phía.

Đọc theo thân phận hậu chiến hoặc thân phận lưu vong, đây có thể là một lời tự thú rất đau, cái giam giữ con người ta không nhất thiết phải là kẻ thù từng cầm súng đối đầu, đôi khi chính đồng bào mình, chính guồng máy quan liêu của phe mình, chính khối đông đảo tầm thường thuộc về mình, mới là thứ thực sự khóa chặt một con người tài năng lại, mà không cần một trận chiến thực sự nào xảy ra để biện minh cho việc đó.

Nỗi vô cảm được nói tới trong nhan đề, vì vậy, không hẳn là sự tê liệt trước bạo lực của kẻ thù, mà là sự tê liệt trước một sự thật khó nuốt hơn nhiều, chưa từng có kẻ thù nào bước ra khỏi bóng tối để nhận trách nhiệm cho sự giam cầm này, chỉ có sự im lặng của chính phe mình, một khoảng trắng ngồi lặng lẽ ngay bên cạnh, chứng kiến tất cả mà không cần phải là ai.

Cuộc cờ bắt đầu lâu rồi, đi nước nào?

Nhìn lại vị trí của vòng tròn trắng, nó không nằm ở đâu xa, nó nằm sát ngay cạnh quân mã, gần đến mức nếu luật cờ cho phép, đó có thể chính là ô vuông mà quân mã cần đến để thoát khỏi thế cản chân. Tự do, nếu có, đang nằm ngay bên cạnh, trong tầm mắt, chỉ cách đúng một nước đi. Nhưng nó bị bỏ trống, không một ký tự nào được viết lên đó, như thể chính khả năng thoát thân cũng chưa từng được xác định, chưa từng được thừa nhận là có thật, dù nó vẫn hiện diện sờ sờ ngay trước mắt kẻ đang bị giam.

Nếu không đối thủ ngồi ở phía bên kia bàn cờ, thì thế bí mà quân mã đang chịu không đến từ một cuộc đấu nào cả, nó chỉ là một cách xếp quân đứng yên, tự nó không phải là một cuộc chơi, chỉ là dáng vẻ còn sót lại của một cuộc chơi chưa từng xảy ra.

Vì vậy, có lẽ không phải việc quân mã bị vây, mà là việc nó chưa bao giờ thực sự cần bị đánh bại để bị giữ lại chỗ cũ. Không có địch thủ, nghĩa là cũng không có ai buộc phải đi tiếp một nước nào, không có luật chơi nào đòi hỏi ván cờ phải kết thúc, thắng hay thua. Cái ô trống bên cạnh quân mã có thể cứ nằm đó mãi mãi, trống, vô tích sự, không ai đến chiếm, không ai đến giải thoát cho quân mã bước vào, đơn giản vì chưa từng có quy luật nào của một cuộc chơi thật sự bắt cái thế cờ này phải nhúc nhích. Một tù nhân còn có thể hy vọng vào ngày địch thủ sơ hở. Ở đây thậm chí điều đó cũng bị tước đoạt, vì chẳng có ai ngồi bên kia bàn để mà chờ bị đánh bại.
 
 

Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại? Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
Một dân tộc có tài, nhưng không tin vào tài. Người Việt thường được khen là khéo, nhanh trí, ứng biến giỏi. Nhưng tài năng ấy nhiều khi vận hành như chiến thuật sinh tồn, không phải xung lực sáng tạo. Trong văn chương, điều này hiện ra rất rõ: các tác giả Việt thường tin vào nỗi đau hơn là vào tư tưởng. Nỗi đau dễ được đồng cảm, tư tưởng dễ bị nghi ngờ. Vì thế, tài năng Việt giống ngọn đèn không dám mở sáng hết bóng mình. Nó sáng vừa đủ để thấy đường, nhưng không đủ để soi cái bóng đang cầm đèn. Đó là lý do, dù có nhiều nhà văn tài hoa, văn chương Việt vẫn thiếu một “không gian tin tưởng triết học” – tức niềm tin rằng viết là hành động tư tưởng, chứ không chỉ là kể chuyện hay cảm xúc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.