Hôm nay,  

Can Xue của TQ sẽ được Nobel Văn Học 2026?

05/10/202622:10:00(Xem: 1296)

Can Xue của TQ sẽ được Nobel Văn Học 2026?
 

Phan Tấn Hải
 

Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.

Theo thị trường cá độ dự đoán được tổng hợp từ Kalshi và theo dõi các dữ liệu Polymarket, các ứng viên dẫn đầu gồm:

- Anne Carson (Canada) khoảng 18%;

- Can Xue (Trung Quốc) khoảng 16%;

- Amitav Ghosh (Ấn Độ) khoảng 13%;

- Mircea Cărtărescu (Romania) khoảng 12%;

- Thomas Pynchon (Hoa Kỳ) khoảng 9%.

 

blank

Nhà văn Can Xue  (Trung Quốc) và tác phẩm Frontier (hình Britannica và Amazon)

 
Tuy nhiên, không có gì bảo đàm người có xác suất cao sẽ thắng, vì văn học luôn luôn là cái gì mơ hồ. Khi khảo sát về tiểu sử sơ lược và phong cách viết của các nhà văn, chúng ta có thể suy đoán ra cách những người cá độ suy luận ra sao.

Nobel Văn học thường là giải thưởng cho cả sự nghiệp văn chương của một tác giả. Về mặt chính thức, di chúc của Alfred Nobel nói rằng giải được trao cho tác giả đã tạo ra "tác phẩm xuất sắc nhất theo một khuynh hướng lý tưởng" (the most outstanding work in an ideal direction). Tuy nhiên, trong thực tế hơn một thế kỷ qua, giải thưởng hầu như luôn được trao cho toàn bộ đóng góp văn chương của một đời người, chứ không phải chỉ riêng một cuốn tiểu thuyết hay một tập thơ.

Khi Rabindranath Tagore (Giải Nobel Văn Học 1913), William Faulkner (Nobel VH 1949), Gabriel García Márquez (1982), Toni Morrison (1993), Seamus Heaney (1995) hay Mo Yan (2012) nhận giải Nobel Văn Học, người ta không vinh danh một tác phẩm đơn lẻ mà là toàn bộ thế giới nghệ thuật họ đã xây dựng trong nhiều thập niên. Nói cách khác, Nobel Văn học gần với một "giải thành tựu trọn đời" hơn là một giải dành cho một cuốn sách mới phát hành.

 
Tuy nhiên, có câu hỏi thường gặp là: có sự cân bằng giữa các châu lục và nền văn hóa không? Chính thức, Viện Hàn lâm Thụy Điển không tuyên bố phân chia giải theo màu da, chủng tộc hay châu lục. Tuy nhiên, trên thực tế, họ ý thức rất rõ rằng văn học là di sản của toàn nhân loại.

Trong nhiều thập niên đầu, Nobel bị phê phán là quá thiên về châu Âu. Từ cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, có thể thấy xu hướng mở rộng rõ rệt sang: Châu Á, Châu Phi, Mỹ Latin, Trung Đông, các nền văn học bản địa, các ngôn ngữ ít được dịch... Vì thế có thể nói rằng Nobel không chia đều một cách cơ học, nhưng có nỗ lực tìm kiếm những tiếng nói lớn từ nhiều nền văn minh khác nhau để tránh biến giải thưởng thành câu chuyện riêng của phương Tây.

Nhiều tác phẩm của các tác giả thắng Giải Nobel Văn Học lại thuộc loại khó đọc, nghĩa là phải vừa đọc, vừa suy nghĩ. Không dễ đọc trôi chảy như truyện võ hiệp. Như vậy, lý tưởng sâu xa của Nobel Văn học là gì? Đây là điều rất đáng suy ngẫm. Nobel Văn học không phải là giải cho nhà văn bán chạy nhất, cũng không phải giải cho kỹ thuật ngôn ngữ thuần túy.
 

Nếu nhìn vào phần lớn các tác giả thắng Giải Nobel Văn Học trong thế kỷ XX và XXI, ta thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua các tác phẩm: bảo vệ phẩm giá con người, khai mở tự do tinh thần, chống lại sự phi nhân hóa, gìn giữ ký ức tập thể, làm chứng cho đau khổ và hy vọng của con người.

Các dấu ấn này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: Tagore (Nobel VH 1913) nói về tình huynh đệ nhân loại, Aleksandr Solzhenitsyn (Nobel VH 1970) nói về sự thật dưới chế độ độc tài toàn trị, Toni Morrison (Nobel VH 1993) nói về ký ức của người da đen, Orhan Pamuk (Nobel VH 2006) nói về bản sắc và đối thoại văn hóa, Svetlana Alexievich (Nobel VH 2015) ghi lại tiếng nói của những nạn nhân chiến tranh, Abdulrazak Gurnah (Nobel VH 2021) kể về lưu đày và di dân. Không nhất thiết phải viết tác phẩm lên án chiến tranh và kêu gọi hòa bình, nhưng tất cả đều có bảo vệ một giá trị sâu hơn của nhân loại: những gì làm cho người là người.

Như dường lý tưởng cao đẹp nhất của Nobel Văn học không phải thuần túy là ca ngợi tài năng, mà là ca ngợi những người dùng ngôn từ để làm cho con người hiểu nhau hơn, bớt sợ hãi nhau hơn, và bớt gây đau khổ cho nhau hơn. Một tác phẩm Nobel vĩ đại thường giúp người đọc nhận ra rằng người nghèo, người tị nạn, người bị áp bức, người khác màu da, khác tôn giáo hay khác dân tộc cũng mang cùng những nỗi vui buồn, hy vọng và khổ đau như chính mình.
 

Sau đây chúng ta sơ lược nhìn về các tác giả đứng đầu danh sách cá độ Nobel Văn Học 2026.

-- Anne Carson. Được cá độ 18% cơ may thắng giải Nobel Văn Học 2026. Sinh năm 1950. Nhà thơ, dịch giả và học giả cổ điển người Canada. Phong cách và đề tài: Kết hợp thơ, tiểu luận và triết học; Khai thác thần thoại Hy Lạp cổ đại dưới góc nhìn hiện đại; Giọng văn tinh tế, trí tuệ, giàu chiều sâu triết học. Nhiều nhà phê bình xem bà như một trong những tiếng nói cách tân nhất của thơ ca Anh ngữ đương đại.

-- Can Xue (Tàn Tuyết). Được cá độ 16%. Sinh năm 1953. Nhà văn nữ Trung Quốc, có tên thật là  Deng Xiaohua (Đặng Tiểu Hoa). Phong cách và đề tài: Siêu thực, huyền ảo, mang tính giấc mơ; Thường được so sánh với Kafka và Borges; Cốt truyện phi tuyến tính, biểu tượng dày đặc. Trong nhiều năm liền, bà là ứng viên được giới văn chương quốc tế đánh giá rất cao.

-- Amitav Ghosh. Được cá độ 13%. Sinh năm 1956. Tiểu thuyết gia và học giả người Ấn Độ. Phong cách và đề tài: Kết hợp lịch sử, hậu thuộc địa và sinh thái học; Viết nhiều về Ấn Độ Dương, di dân và biến đổi khí hậu; Văn xuôi uyên bác nhưng giàu tính kể chuyện. Ông được xem là một trong những nhà văn châu Á có ảnh hưởng lớn nhất hiện nay.

-- Mircea Cărtărescu. Được cá độ 12%. Sinh năm 1956. Nhà văn Romania. Phong cách và đề tài: Hậu hiện đại; Pha trộn ký ức, giấc mơ và huyền thoại; Ngôn ngữ cực kỳ giàu hình ảnh và tính nội tâm. Ông được nhiều nhà phê bình châu Âu xem là ứng viên Nobel "đến kỳ" nhất hiện nay.

-- Thomas Pynchon. Được cá độ 9%. Sinh năm 1937. Tiểu thuyết gia Mỹ nổi tiếng bí ẩn, gần như không xuất hiện trước công chúng. Phong cách và đề tài: Tiểu thuyết hậu hiện đại quy mô lớn; Dày đặc kiến thức khoa học, lịch sử và văn hóa đại chúng; Hài hước đen, châm biếm xã hội hiện đại. Nhiều độc giả xem ông là một trong những nhà văn Mỹ vĩ đại nhất còn sống.
 

blank

Nhà văn Anne Carson (Canada) và tác phẩm Short Talks (hình Wikipedia và Amazon)

Ngoài nhóm tác giả hàng đầu nêu trên, giới cá cược và phê bình còn thường xuyên nhắc đến: Haruki Murakami (Nhật Bản), Salman Rushdie (Anh gốc Ấn Độ), Gerald Murnane (Úc), Margaret Atwood (Canada), César Aira (Argentina).

Tác giả nào được đoán có nhiều hy vọng sẽ thắng Giải Nobel Văn Học 2026? Nếu chỉ nhìn các xác suất thị trường cá độ hiện tại, người được đánh giá cao nhất là Anne Carson với khoảng 18%, kế đến là Can Xue với khoảng 16%. Tuy nhiên, 18% vẫn là một xác suất khá thấp, cho thấy thị trường tin rằng cuộc đua rất mở và chưa có ứng viên áp đảo.

Từ góc độ văn học, nhiều nhà quan sát cho rằng, nếu Viện Hàn lâm muốn tôn vinh thơ ca và tư tưởng hiện đại hòa lẫn Hy Lạp cổ điển, Anne Carson có lợi thế. Trường hợp nếu muốn ghi nhận văn học thử nghiệm châu Á, Can Xue là lựa chọn nổi bật. Trong khi nếu muốn nhấn mạnh lịch sử toàn cầu, hậu thuộc địa và khủng hoảng khí hậu, Amitav Ghosh rất đáng chú ý. Giả như nếu muốn vinh danh một đại diện lớn của văn học Đông Âu đương đại, Mircea Cărtărescu là ứng viên mạnh. Nghĩa là, tất cả các tác giả trên đều có những chủ đề lớn trong văn học, và có văn phong khám phá, chứ không rơi vào nền văn học giải trí.

Trong các nhà văn trên, người có quá khứ trưởng thành trong bầu không khí toàn trị tương tự như Việt Nam là Can Xue (Tàn Tuyết), nhưng truyện của bà lại mở ra một thế giới huyền ảo, đưa độc giả như bước vào những giấc mộng và thế giới biểu tượng. Giới phê bình nói rằng tác phẩm đáng đọc nhất của Can Xue hiện nay là Frontier, đặt những câu hỏi về bản ngã, ký ức, cái chết và sự chuyển hóa của con người trong một thế giới gần như nằm giữa mộng và thực.
 

Theo Wikipedia tiếng Anh, sau đây là các thông tin về nhà văn Can Xue. Đặng Tiểu Hoa (Deng Xiaohua) sinh năm 1953 tại Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Cuộc đời thời trẻ của bà gắn liền với chuỗi bi kịch và gian khổ, những điều đã ảnh hưởng sâu sắc đến định hướng sáng tác sau này của bà. Bà là một trong sáu người con của một người từng giữ chức tổng biên tập tờ Tân Hồ Nam Nhật báo (New Hunan Daily). Cha mẹ bà, cũng như nhiều trí thức thời bấy giờ, đã bị quy kết là phần tử "hữu khuynh" trong Chiến dịch Chống Hữu khuynh năm 1957, dù bản thân họ đều là đảng viên Đảng Cộng sản. Cha bà bị đày về nông thôn trong hai năm để chịu phạt vì cáo buộc cầm đầu một nhóm chống Đảng ngay tại tòa soạn. Hai năm sau, cả gia đình bị buộc rời khỏi khu nhà tập thể của tòa soạn và chuyển đến một túp lều nhỏ dưới chân núi Nhạc Lộc (Yuelu), ở vùng ngoại ô Trường Sa. Những năm tháng tiếp theo, gia đình bà phải chịu đựng thêm nhiều cuộc đàn áp khốc liệt. Cha bà bị tống giam, còn mẹ bà cùng hai người anh em trai bị đưa về nông thôn để cải tạo lao động. Riêng Đặng được phép ở lại thành phố do sức khỏe yếu. Sau khi buộc phải rời khỏi túp lều nhỏ, bà sống một mình trong một căn phòng tối tăm, chật hẹp nằm dưới gầm cầu thang. Khi Cách mạng Văn hóa nổ ra, Đặng mới mười ba tuổi. Việc học hành chính quy của bà đã chấm dứt hoàn toàn sau khi bà hoàn thành bậc tiểu học.

Can Tuyết (Can Xue) đã mô tả chi tiết những nỗi kinh hoàng thời trẻ trong cuốn hồi ký có tựa đề "Một ngày hè ở miền Nam tươi đẹp" (A Summer Day in the Beautiful South) – tác phẩm được dùng làm lời tựa cho tập truyện ngắn "Đối thoại nơi thiên đường" (Dialogues in Paradise) của bà. Suốt giai đoạn này, cả gia đình bà đã phải "vật lộn sống qua ngày bên bờ vực cái chết". Người bà – người đã chăm sóc bà trong thời gian cha mẹ vắng nhà – chẳng bao lâu sau đã kiệt quệ vì đói khát và mệt mỏi, rồi qua đời trong tình trạng phù nề nghiêm trọng, một chứng sưng tấy biến dạng cơ thể. Trong khi gia đình phải chật vật kiếm ăn, thậm chí phải ăn cả những món đồ len trong nhà để cầm hơi, thì Can Tuyết lại mắc bệnh lao phổi nặng. Sau này, bà tìm được công việc làm thợ kim khí. Mười năm sau, vào năm 1980, sau khi sinh con trai đầu lòng, bà đã nghỉ việc tại nhà máy. Sau khi tự học may vá, bà cùng chồng mở một tiệm may nhỏ ngay tại nhà.

Bà bắt đầu sáng tác vào năm 1983 và cho ra mắt truyện ngắn đầu tay mang tên "Những bong bóng xà phòng trên dòng nước đục" ("Soap Bubbles in Dirty Water") vào tháng 1 năm 1985. Cũng trong năm đó, bà viết thêm hai truyện ngắn nữa là "Con bò đực" ("The Bull") và "Túp lều trên đồi" ("The Hut on the Hill"); đây cũng là lúc bà chọn bút danh Tàn Tuyết (Can Xue). Cái tên này có thể được hiểu theo hai nghĩa: lớp tuyết bẩn, cứng đầu còn sót lại khi mùa đông sắp qua, hoặc lớp tuyết còn đọng lại trên đỉnh núi sau khi phần tuyết khác đã tan hết. Việc sử dụng bút danh cho phép Tàn Tuyết sáng tác mà không để lộ giới tính thật của mình. Theo Tonglin Lu, giáo sư ngành Văn học Đối Chiếu tại Đại học Montreal, khi giới phê bình biết bà là phụ nữ, "giọng văn mang tính phá cách nằm trong một trật tự vốn đã mang tính phá cách [của dòng văn học tiên phong]" của bà đã khiến họ cảm thấy không thoải mái. Tonglin Lu gọi đây là sự "phá cách kép". Không chỉ viết văn học tiên phong, bà còn là phụ nữ; các nhà văn và nhà phê bình nam giới thường cố gắng phân tích tác phẩm của bà thông qua việc phân tâm học chính tác giả, thậm chí có người còn cho rằng bà bị điên. Năm 2002, bà chia sẻ: "Rất nhiều người [trong giới phê bình] ghét tôi, hoặc ít nhất là họ cứ im lặng và mong tôi biến mất. Chẳng ai bàn luận về các tác phẩm của tôi cả, có thể vì họ không đồng tình hoặc đơn giản là không hiểu được chúng."

Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều nhà phê bình đã ca ngợi, công nhận các tác phẩm của bà, nói rằng họ bị thu hút bởi sự chính xác, tỉ mỉ mà bà sử dụng để tạo nên những hiệu ứng kỳ lạ và đầy ám ảnh nơi độc giả.

Phong cách trừu tượng và lối kể chuyện phá cách của Can Xue đã thu hút sự chú ý lớn từ giới phê bình trong thập niên 1990s. Dù có nhiều cách lý giải khác nhau về các tác phẩm của bà, nhưng việc coi chúng là những ẩn dụ chính trị vẫn là cách hiểu phổ biến nhất đối với các truyện ngắn thời kỳ đầu của bà. Nhiều hình ảnh trong truyện của bà thường được liên hệ với Cách mạng Văn hóa, Phong trào Chống Hữu khuynh và các biến động chính trị khác trong giai đoạn đầu của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, hiếm khi có những chi tiết đề cập trực tiếp đến các sự kiện này. Bản thân tác giả cũng thẳng thắn phủ nhận hầu hết các cách diễn giải mang tính chính trị mà người khác gán cho tác phẩm của mình; bà từng tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn: "Không hề có mục đích chính trị nào trong các tác phẩm của tôi."

Ngược lại, bà cho biết bà coi mỗi câu chuyện như một dạng thử nghiệm về cuộc sống mà chính bà là chủ thể. Bà chia sẻ: "Ở những tầng sâu thẳm nhất, tất cả các tác phẩm của tôi đều mang tính tự truyện." Đối với những ai gặp khó khăn trong việc tìm kiếm ý nghĩa trong truyện của mình, Tàn Tuyết nói: "Nếu độc giả cảm thấy cuốn sách này không thể đọc nổi, thì rõ ràng họ không phải là độc giả của tôi."

Can Xue cũng từng tham gia viết lời cho ít nhất một vở opera. Năm 2010, bà cùng Lâm Vương (Lin Wang) đồng sáng tác lời cho vở opera thính phòng đương đại "Die Quelle" (tạm dịch: "Nguồn"), một tác phẩm do Liên hoan Münchener Biennale đặt hàng Lâm Vương thực hiện. Vở opera này được chuyển thể từ truyện ngắn "Cuộc đời kép" (The Double Life) đã xuất trong các tác phẩm của Can Xue. Trong vở diễn, nhân vật một nghệ sĩ trẻ tên là Jian Yi được phân tách thành các khía cạnh khác nhau do nhiều diễn viên đảm nhận; họ đối thoại với nhau trên sân khấu, trong khi hình ảnh dòng suối cạn khô rồi lại trào dâng tượng trưng cho sự mất đi và tìm lại bản sắc cá nhân. Lâm Vương là người soạn nhạc cho "Die Quelle" (tác phẩm dài 85 phút), sử dụng các nhạc cụ Trung Hoa như sheng/khèn (nhạc cụ để thổi ghép nhiều ống sáo đa âm), guzheng/đàn cổ tranh (gốc là 16 dây, thập lục, bây giờ có thể 21 dây) và đàn sanxian/tam huyền (đàn ba dây). Một nét độc đáo của vở opera này là sự kết hợp giữa cách phát âm tiếng Anh và ngữ điệu tiếng Trung. "Die Quelle" được công diễn lần đầu vào ngày 9 tháng 5 năm 2010 tại Munich Biennale và được phát sóng trực tiếp.
 

Tiểu thuyết gia kiêm biên tập viên người Mỹ Bradford Morrow đã mô tả Can Xue là một trong những tác giả "đổi mới và quan trọng" nhất của nền văn học thế giới đương đại.

Can Xue đã giành Giải thưởng Sách Dịch Xuất sắc nhất (Best Translated Book Award) năm 2015 cho tiểu thuyết “Người tình cuối cùng” (The Last Lover) của bà. Trang Wikipedia cũng liệt kê 6 giải thưởng văn học quốc tế trao cho Can Xue, trong đó giải lớn nhất là năm 2024: America Award in Literature, dành cho những cống hiến trọn đời cho nền văn học quốc tế.

Chúng ta khó đoán chính xác, nhưng nếu Can Xue thắng giải Nobel Văn Học 2026, môi trường trưởng thành gian nan của bà sẽ được thế giới chú ý hơn. Đó cũng là một xã hội toàn trị rất gần với Việt Nam.

 



Trước đây, Thường Thấu Thấm thuộc về giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác. Tuy nhiên, dịch thuật cũng mang cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ và ngữ pháp, được xác định minh bạch về bản chất, cá tính và chức năng, có tính toàn cầu trong hệ thống ngôn ngữ, có tính chung để thông đạt, nên giả thuyết này có thể áp dụng vào dịch thuật, song song với giả thuyết thưởng ngoạn và sáng tác.
Lời Dẫn Nhập: Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80.
Một hình bóng, suốt cả cuộc đời trôi nổi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát, ông không quan tâm mọi người nhìn ông với đầu tóc bù xù, áo quần tả tơi, kỳ quái trên đường phố… mà tự bản thân ông cho mình rong chơi trong cõi ta bà mộng mị với “Ngày Tháng Ngao Du”...
Thi sĩ Khet Thi chỉ mới 45 tuổi, dựa theo thông tin từ trang Facebook của ông. Vợ của Khet Thi nói rằng cả hai vợ chồng bị phỏng vấn hôm Thứ Bảy 8/5/2021 bởi cảnh sát và quân đội tại thị trấn Shwebo, trong khu vực Sagaing – trung tâm của cuộc kháng chiến chống lại cuộc đảo chánh quân sự mà trong đó lãnh tụ dân cử Aung San Suu Kyi bị bắt.Chaw Su, vợ của nhà thơ Khet Thi, nói trong tiếng khóc với BBC chương trình tiếng Miến Điện từ Monywa, rằng hai vợ chồng cùng bị thẩm vấn, “Họ nói chồng tôi ở trung tâm thẩm vấn. Nhưng anh không trở về, chỉ có xác của anh. Họ gọi tôi vào buối sáng và bảo tôi lên đón chồng tôi ở bệnh viện tại Monywa. Tôi nghĩ có thể là gãy tay hay gì đó… Nhưng khi tôi tới, anh nằm ở nhà xác, nội tạng bị lấy đi rồi.”Tổ chức có tên là Assistance Association for Political Prisoners nói rằnh nhà thơ Khet Thi chết ở bệnh viện sau khi bị tra tấn ở trung tâm thẩm vấn, và nói rằng số người dân bị giết từ khi đảo chánh xảy ra là 780 người.Khet Thi là nhà thơ thứ ba chết
Nội dung chủ yếu mà tác giả muốn nói rõ chính là bản chất cố tủy của Phật Giáo, đó là nhận rõ bản tâm (Original Mind) của mình, tức là Thấy Tánh. Thấy Tánh là thấy tâm nơi không một pháp nào dính vào, nhìn thấy tâm nơi chỗ rỗng rang tịch lặng, thấy sanh diệt huyễn hóa, thấy duyên khởi tánh không, thấy các pháp đều không hư, nhìn thấy tâm nơi khởi lên và biến diệt, nhìn thấy tâm vô tác, vô tướng... Thấy được tánh các pháp như thế, là giải thoát.
Ba mươi tháng tư của bốn mươi sáu năm trước đối với hàng triệu người Việt không chỉ đơn thuần là thời điểm xảy ra trên diễn trình của thời gian vận hành liên lỉ bất tận. Ba mươi tháng tư đối với hàng triệu người Việt là điểm tụ của ký ức khó phai. Đừng tưởng ký ức là cái gì đã qua thì dễ phai nhạt và không hiện thực. Khi ký ức với những vết hằn khổ lụy sâu hoắc của một quãng đời nào đó có cơ hội tái hiện thì nó còn thật hơn gấp triệu lần cái hiện tại mà con người đang sống,
Là vì không ai vào lúc ấy có thể trải được cái tâm trạng bất đắc chí, hụt hẫng, dở khóc dở cười của mình... một cách thấu đáo, ý nhị, hào hùng, cảm động mà lại lạc quan tếu kiểu như ông. Tửng tửng, tếu, tự biếm, mà thâm sâu làm sao. Đọc thơ ông, người ta vừa cười, vừa khóc.
Đêm yên tĩnh. Nhìn ra khung kiếng cửa sổ chỉ thấy một màu đen, đậm đặc. Cây cối, hàng dậu, lẳng hoa, bồn cỏ, ghế đá, và con đường ngoằn ngoèo trong công viên, có thể sẽ khó cho khách bộ hành nhận ra vị trí và thực chất của chúng. Cây bên đường có thể bị nhầm là kẻ trộm đối với cảnh sát, và sẽ là cảnh sát đối với kẻ trộm (1). Giây thừng hay con rắn. Con chim hay con quạ. Con sóc hay con mèo. Người hay quỉ. Mọi vật đều một màu đen.
Nhà văn người Mỹ chuyên viết truyện thiếu nhi Beverly Cleary đã qua đời hôm 25 tháng 3 năm 2021 tại thành phố Carmel thuộc tiểu bang California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 104 tuổi, theo nhà xuất bản của bà là HarperCollins thông báo qua tường thuật của Đài NPR hôm 26 tháng 3 năm 2021. Cleary là người tạo ra một số nhân vật có thật nhất trong văn chương của tuổi trẻ -- Henry Huggins, Ralph S. Mouse và Ramona Quimby nóng tính. Các thế hệ độc giả giày xéo sân chơi, học viết chữ thảo, chống lại bánh sandwich với cá ngừ và có những vết xướt và vết bầm tím vinh quang của tuổi trả cùng với Ramona. “Tôi nghĩ trẻ em muốn đọc về những đứa trẻ bình thường mỗi ngày. Đó là những gì tôi muốn đọc khi tôi lớn khôn,” theo Claary nói với Linda Wertheimer của Đài NPR vào năm 1999. “Tôi muốn đọc về loại những đứa con trai và con gái mà tôi biết trong xóm làng của tôi và trong trường học của tôi. Và trong thời thơ ấu của tôi, nhiều năm về trước, sách thiếu nhi dường như là viết về trẻ em Anh Quốc,
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.