Hôm nay,  

Nhớ Thầy

03/11/202611:20:00(Xem: 519)

Có khi thật buồn nản, thất vọng giữa một tổ chức đáng ra phải hòa hợp thanh tịnh mà lại chia rẽ phân hóa cùng cực (1), chợt nhớ lời Thầy, “dũng mãnh để đi bằng đôi chân của mình, nhìn bằng đôi mắt của mình, tự xác định hướng đi cho chính mình,” (2) cố gắng nhẫn nhịn, nương lời Thầy đứng lên.

Có khi bất lực nhìn đồng đạo buồn lòng, nản chí, thấy việc đúng mà không thể thực hiện, thấy việc sai mà không thể chỉnh sửa, nhớ lời Thầy “nếu không thể xoay chuyển được tình thế, tạm thời đứng ngoài, khi nào thấy có thể đóng góp được tài chí của mình thì hãy trở lại” (3). Thầy không khuyên phải khuất thân, không khuyên phải phản kháng kỳ cùng, không khuyên treo ấn từ quan như cách người quân tử xưa (4). Thầy chỉ khuyên tạm thời đứng ngoài, giữ vững chí nguyện của mình, tiếp tục làm những gì đúng với chánh đạo, cho đến khi nào và nơi nào Giáo hội cần, hãy dấn thân trở lại. Và chính Thầy đã làm điều đó: từ cuối năm 2003, không ký đơn từ nhiệm, chỉ lẳng lặng lui về tĩnh thất, đêm ngày thiền tọa, phiên dịch chú giải, trước tác, giảng dạy cho hàng hậu lai... cho đến khi Giáo hội loại tên Thầy ra khỏi Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo qua Giáo chỉ số 2, năm 2005, thay thế bằng một vị Tăng khác; và cho đến khi vị lãnh đạo tối cao vời Thầy về để trao ấn tín năm 2019, chỉ định Thầy là người kế tục duy nhất, uy tín và tài đức nhất, có thể dựng lại cơ đồ đổ nát của Giáo hội (5).

Có khi cảm thấy thật bơ vơ kể từ khi Thầy ra đi; chợt nhớ những gì Thầy dặn dò, những gì Thầy sắp xếp, để lại... lòng thật an, như được sự khuyến tấn vỗ về trực tiếp của Thầy từ những buổi giảng: “Sứ mệnh và sở trường của Tăng sĩ Phật giáo là làm văn hóa, giáo dục, không có con đường nào khác.” Lời Thầy dạy cùng quan điểm với một Thiền sư khuyên người tăng sĩ trẻ: “Việc hoằng pháp của tăng sĩ Phật giáo, nói theo ngôn ngữ thế tục, là làm văn hóa, giáo dục. Đó là con đường dài lâu của Phật giáo.” (6)

Đã ba năm trôi qua rồi. Giờ này ngồi đây, nhớ về Thầy. Nhớ con đường Thầy đi. Con đường thiên lý. Con đường độc hành. Con đường hoằng pháp, giáo dục. Con đường ấy, trước Thầy đã có Thầy-Tổ nhiều đời; và sau Thầy sẽ có nhiều thế hệ tiếp nối. Nhưng từ một góc sâu của tâm, của trí, luôn nhớ đến Thầy như một bậc thạc đức kỳ tài, nghìn năm chỉ có một, đã đi qua cuộc đời này, gieo rắc hoa trái từ bi trí tuệ trên khắp những nẻo đường của Dân tộc và Phật giáo Việt Nam.

_________________


(1) Từ những năm đầu thập niên 2000, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước và hải ngoại rơi vào đại nạn phân cực, do sự xâm nhập của một cư sĩ hoạt đầu chính trị, tìm mọi cách để thao túng, chia rẽ nội bộ, phá hòa hợp Tăng, đẩy giáo hội theo con đường chính trị cực đoan.
(2) Trích “Thư gửi Tăng sinh Huế” ngày 28.10.2003 của HT Tuệ Sỹ.
(3) Lời khuyên riêng của HT Tuệ Sỹ với một thành viên của GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ trước Đại hội Khoáng Đại Kỳ III, 2004.


(4) “Từ quan quy ẩn” 辭官歸隱 bỏ chức vị, về ở ẩn.
(5) Điều 1 và điều 3 trong Quyết Định Ủy thác Quyền Điều hành Viện Tăng Thống của Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ban hành ngày 24 tháng 5 năm 2019. Điều 2 của Quyết Định nêu rõ: “Thỉnh cử Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ thay tôi đứng đầu vào vị trí của Viện Tăng Thống, bảo đảm tiếp tục sứ mệnh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong tương lai. Tôi hoàn toàn tin tưởng và ủy thác trọng trách này cũng như trao toàn quyền cho Hòa thượng Tuệ Sỹ điều hành mọi hoạt động của Giáo Hội.”
(6) Năm 1989, tại Tu viện Vạn Hạnh Virginia, Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong một lần bộ hành riêng với vị tăng sĩ cựu tù nhân chính trị từ Việt Nam mới sang Mỹ, đã khuyên từ bỏ con đường đấu tranh chính trị thế tục, và chỉ cần làm đúng chức năng văn hóa, giáo dục của Phật giáo; đó mới chính là việc hoằng pháp chân chánh.

biachanhphap180
Hình bìa: Sơn Ni


CHÁNH PHÁP Số 180, tháng 11.2026

NỘI DUNG SỐ NÀY:

· THƯ TÒA SOẠN, trang 2

· NGUYÊN TẮC ĐOÀN KẾT VÀ NGUYÊN TẮC NHIẾP CHÚNG, t.t. (Nguyên Siêu), trang 3

· AI BIẾT MÌNH TÓC TRẮNG (thơ Tâm Không Vĩnh Hữu), trang 7

· PHÁP LỤC HÒA (HT Thích Đức Thắng), trang 8

· ĐẠI BI CỦA BỒ TÁT (Nguyễn Thế Đăng), trang 13

· THỰC TẬP TÂM THÁI AN BÌNH (HT. Thích Thái Hòa), trang 16

· THIÊN NIÊN PHẬT SỬ KÝ (Lãng Thanh), trang 17

· KHỔ, VUI ĐỀU TỪ NHẬN THỨC (TN Tịnh Quang), trang 18

· ĐỨC PHẬT DẠY LÌA XAN THAM (Nguyên Giác), trang 19

· AN VUI CÙNG HIỆN TẠI (Tuệ Uyển Nhi), trang 23

· BẢY PHÁP DIỆT TRÁNH (NS Thích Nữ Trí Hải), trang 24

· TRĂNG VÀNG ĐỢI CỬA (thơ Minh Đạo), trang 26

· PHÁP TU “NHƯ LÝ TÁC Ý” (TN Hằng Như), trang 27

· NHƯ DÒNG SÔNG (thơ Diệu Viên), trang 28

· GIEO NHÂN LÀNH (thơ Hoàng Thục Uyên), trang 29

· TU TẬP TRONG BẬN RỘN (Thiện Tâm Võ Thành Danh), trang 30

· NGƯỜI YÊU MUÔN THUỞ (thơ TM Ngô Tằng Giao), trang 31

· PHẬT GIÁO VÀ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO... (Thị Giới lược dịch), trang 32

· GIỮA BỒ TÁT VÀ LA HÁN (Quảng Cơ dịch), trang 38

· ÁNH TRĂNG BÊN RỪNG (thơ TitiVũ), trang 42

· ĐỌC VÀ VIẾT TRONG GĐPT TẠI HẢI NGOẠI (Tâm Thường Định), tr. 43

· ÁNH TRĂNG XƯA ĐÓN BƯỚC TA VỀ (thơ Tôn Nữ Mỹ Hạnh), trang 46

· NOBEL 2026 – VÒNG NGUYỆT QUẾ NÀO CHO VĂN CHƯƠNG & HÒA BÌNH (Uyên Nguyên), trang 47

· BẢN SANH: TRUYỆN 14 – JATAKA TALES: STORY 14 (Nguyên Giác), trang 51

· MỘT KHOẢNH BÌNH YÊN (Lãng Thanh), trang 53

· LƯỢNG TRỜI (thơ Lý Thừa Nghiệp), trang 54

· TRUYỆN CỰC NGẮN (Steven N), trang 55

· NGÃ KIẾN, HOANG CẢNH... (thơ Phù Du – Vĩnh Hiền), trang 60

· NÀNG DÂU GIỎI (Truyện cổ Phật Giáo), trang 61

· NẺO THIỀN CHUÔNG NGÂN, CỬA CHÙA CÙNG TỬ... (thơ Tịnh Bình), tr. 66

· CỞI TRÓI tập 2 – chương 25 (truyện dài Vĩnh Hảo), tr. 67

https://chanhphap.us/CHANH%20PHAP%20BO%20MOI/Muc%20luc%202026/CP%20so%20180%20(11.26).htm

Cầu kiến chư bồ tát, chư hiền thánh tăng, chính là cầu kiến Phật tánh, tánh giác của mình, cầu kiến bản tâm thanh tịnh của mình, cầu kiến để tiêu trừ vô minh phát sinh trí huệ, tăng trưởng từ bi, kiên cố bồ đề tâm. Cầu kiến chư bồ tát, chư hiền thánh tăng không chỉ mỗi mặt lý hay đơn thuần mặt sự mà lý sự phải đi đôi thì mới không bị nghiêng lệch, phải lý sự viên dung thì mới thật sự là cầu kiến.
Đạo Phật đồng hành với dân tộc đã hơn hai ngàn năm nay. Người Việt tiếp xúc với đạo Phật hầu như đủ các trường phái, pháp môn: Bắc tông, Nam tông, nguyên thủy, mật tông. Trong các tông ấy laị chia chi li hơn nữa như: thiền tông ( của cả Bắc lẫn Nam truyền), tịnh độ, kim cang thừa…
Pháp môn Tịnh độ còn được gọi là pháp môn niệm Phật do bản nguyện của Đức Phật A Di Đà mà thành. Chữ A Di Đà dịch âm từ chữ Phạn Amitābha, chữ Hán dịch là Vô lượng thọ và Vô lượng quang; nghĩa là tuổi sống lâu không số lượng kể, Ngài có hào quang tỏa sáng không lường...
Với lòng thành, với tu theo Quán thế Âm từ lâu khi còn ở Huế, cầu xin được hai ngày thì có báo ứng. Tự nhiên có 3 con cá voi, một con đi đầu dẫn đường còn hai con còn lại cập kẹp vô thuyền hai bên hông mạn thuyền mà bơi về hướng mà sau này biết là Hong kong. Ba con cá ông nầy bơi như vậy suốt 2 ngày 2 đêm thì sáng ra, thấy bờ đất liền là Hong kong thì đàn cá chia tay. Cả nhà sống được và đi Mỹ ở California đến ngày nay.
Chư Phật, chư Bồ Tát trong quá trình tu tập thường phát nguyện lớn. Những lời nguyện ấy giống như kim chỉ nam cho sự hành hoạt. Lời nguyện phát ra làm cho tín tâm tăng trưởng và kiên cố chí tu học. Những đaị nguyện ấy thể hiện cái năng lực, trí huệ và lòng đaị bi của chư Phật, chư Bồ Tát.
Rừng điêu tàn thì đất nước suy vong; đây mới chính là cội rễ của vấn đề.bChúng ta cứu giúp đồng bào bị nạn nhưng chính chúng ta có ai nghĩ đến cội nguồn của vấn đề là nạn phá rừng cưa gỗ tàn phá đất nước. Tác động tới môi trường, phá rừng vẫn đang tiếp diễn và đang làm thay đổi khí hậu và địa lý.
Tôi sinh ra trong một gia đình Phật Giáo. Bà tôi, mẹ tôi hay đi chùa lễ Phật. Bố tôi là một giáo sư dạy ở Đại Học Vạn Hạnh, có viết một số sách về Thiền nổi tiếng. Khi còn trẻ ông thiền tập đều đặn, hầu như mỗi tối, ngay cả khoảng thời gian ông đi tù cộng sản. Anh chị em trong nhà tôi đa số đều qui y Tam Bảo. Có lẽ vì ảnh hưởng bố nhiều hơn mẹ, nên bọn tôi có khuynh hướng học, nghiên cứu về thiền nhiều hơn, chứ không hay đi chùa niệm Phật. Bản thân tôi cũng có thực hành thiền từ tuổi mới lớn. Như vậy coi như là tôi đã “tu thiền”?
Khổ đau bao trùm cả nhân loại, cả thế giới. Đó là một sự thật, không ai có thể chối cãi. Chính vì không ai có thể tránh khỏi, khổ đau trở nên bình thường trong cảm nhận chủ quan của mỗi người; và nó chỉ khởi hiện rõ rệt khi bị đẩy lên vượt mức. Đến lúc ấy, người ta mới gục đổ và chịu nhìn nhận sự thật.
Đụng đến ngũ uẩn là đụng đến Duy Thức Học, Vi Diệu Pháp, những phần thâm sâu, trừu tượng vào bâc nhất của Phật Giáo. Hai truyền thống Phật Giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy cũng giải thích không hoàn toàn giống nhau về ngũ uẩn. Nó phức tạp giống như thế giới phân tâm học của Freud trong khoa học Tây Phương. Với kiến thức sơ cơ của một Phật tử tại gia, tôi cũng “lùng bùng” không kém anh ta
Vào chiều ngày Chủ Nhật 5 tháng 7 2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh tiếp tục chương trình giảng pháp trên mạng cho nhóm Giới Trẻ Mây Từ và các Phật tử. Tuần này chủ đề bài giảng là Cư Trần Lạc Đạo, hay Ở Đời Vui Đạo. Cư Trần Lạc Đạo là bài thơ thiền nổi tiếng của đức vua Trần Nhân Tông, cũng được gọi là Điều Ngự Giác Hoàng. Ngài là vị vua đời Trần với chiến công lẫy lừng ba lần đại phá quân Nguyên. Ngài cũng là sơ tổ của Phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền Việt Nam với đặc điểm nhập thế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.