Hôm nay,  

Lịch Sử Viên Aspirin

10/07/202000:00:00(Xem: 6959)

 

BS Nguyen Y Duc

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

Đa số những cơn đau mà con người thường gặp không phải gây ra do giải phẫu hoặc mới bị thương mà thuốc mê có thể dùng để chữa nhưng còn những cơn đau kinh niên như viêm xương khớp hoặc đau ngắn hạn như nhức đầu và đau răng thì chữa bằng cách nào. Với các đau này, một loại dược phẩm rất cần để giảm đau trong khi đó ta vẫn có thể đi làm được.
 
Vào mùa hè năm 1758, đức cha Edward Stone, ở Chipping Norton bên Anh bị sốt và viêm xương khớp. Vô tình ngài  đã nhai cành của cây liễu trắng rất đắng , ngài rất ngạc nhiên mà thấy rằng cơn đau giảm. Ngài liền nghĩ ra cách để phơi khô  và làm thành bột vỏ cây này và thử nghiệm để kiếm một liều hiệu nghiệm nhất.Trong vòng năm năm sau ngài tặng món thuốc này cho năm mươi người khác và đều thấy công hiệu. Vui mừng với sự khám phá của mình, ngày 25 tháng Tư năm 1763, ngài viết một bức thư cho bá tước Macclesfield, Hội trưởng Hoàng Gia, nhưng không được hồi âm.
 
Năm 1820, dược sĩ Thụy Sĩ Johana S.F. Pagenstecher bắt đầu lấy  một chất từ lá  của cây Spirea ulmaria, thường được gọi là lá dâu dê, rất công hiệu để giảm đau trong y học dân gian.
 
Báo cáo của Pagenstecher trên báo khoa học được đọc vào năm 1835 bởi nhà hóa học người Đức Karl Jacob Lowig, giáo sư hóa học ở Montpellier Uniniversity. Ông cũng cố gắng thay đổi lá cây Spirea ulmaria để loại bỏ tác dụng phụ quan trọng như cơn đau kích thích lớp lót của bao tử nhưng ông ta thấy phương pháp quá mất thì giờ cho nên đã bỏ.
 
Salicylic acid chỉ được một số người mà cơn đau trầm trọng hơn cơn đau của chính dược phẩm.Một trong những người đó là Her Hoffma, sống ở thành phố Đức quốc Elberfield và bị bệnh viêm khớp khiến ông bị què quặt.Con trai của ông ta là một hóa học gia làm việc tại Bayer, một hãng dược phẩm rất lớn ở gần đó và vào năm 1895 anh ta quyết định thử nó để làm bớt cơn đau của bố. Anh ta làm giản dị hóa phương pháp của Gerhard và làm ra aceytylsalicylic acid. Hoffman bèn lấy một lọ nhỏ và đưa cho bố và ông này đã có một đêm hết đau trong nhiều năm. Về sau này người ta mới biết rằng thuốc đó không phải chỉ giảm cơn đau mà còn hạ nhiệt độ và viêm.
 
Đồng nghiệp của Hoffman là ông Heinrich Dresser nhận ra rằng dược phẩm mới có tác dụng rất tốt vì nó chia làm hai ở máu.Để thử giả thuyết của mình, ông ta bèn nuốt chửng một số acetylsalicylate và thường xuyên thử nước tiểu trong vòng 12 giờ.Ông đã tìm ra dấu vết của salicylic acid  nhưng không thấy chất acetylsalicylate: hợp chất quả có tách làm hai.
 
Đến năm 1899,Hopffman và Dreser đặt tên cho dược phẩm mới tìm ra của mình:aspirin- chữ a cho acetyl, spir cho Spirea. Năm sau, công ty dược phẩm Bayer  xin bản quyền cho aspirin, cho các hợp chất trực tiếp của hãng và hình dáng của các dụng cụ của hãng và bắt đầu bán một sản phẩm rất phổ biến trên thế giới.
 
Năm 1914, để đề phòng sự lớn mạnh của chiến tranh và cũng để ngăn cản sự cung cấp của nước Đức, chính phủ Anh bèn tặng 20,000 bảng Anh cho những ai sống tại chính quốc hoặc ở Liên Hiệp Anh đã tìm ra một chất mới cho aspirin mà vẫn tránh né được bản quyền của Bayer.Chính quyền Úc Đại Lợi bèn tặng thêm 5000 bảng anh để khích lệ và hóa học gia George Nicholas nhận lời thách đố đó. Dùng các dụng cụ rất sơ sài và gần như mù vì phòng thí nghiệm của mình bị nổ, ông ta tìm ra một cách để tạo ra một chất aspirin hết sức thuần túy và thắng giải.
 
Sau khi nước Đức thua trận, công ty British Alien Properties Custodian tịch thu tên “aspirin” và công ty Bayer mất bản quyền cả tên lẫn việc sản xuất dược phẩm. Trong số những cơ sở bắt đầu làm hợp chất  là của George Nicholas; và sản phẩm “Aspro” của ông trở thành một loại aspirin bán nhiều nhất ngoại trừ nước Mỹ. Tại nước Mỹ, công ty dược phẩm Sterling, mặc dù đã không liên lạc với công ty Đức, tiếp tục sản xuất aspirin dưới dạng “Bayer”, một tên riêng. Xin nói rõ,  tên riêng (Trademark) là một thương hiệu hàng hóa riêng, trong đó chứa đựng bất kỳ chữ, tập hợp của nhiều chữ, tên riêng và biểu tượng nào. Những từ ngữ này đã từng được sử dụng hoặc sẽ được đưa vào sử dụng trong thương mại để nhận dạng, phân biệt và giúp chỉ ra xuất xứ hàng hóa.
 
Nhưng khám phá về vỏ cây liễu của ngài Stone trong mấy năm về trước không phải là không được dể ý tới. Năm 1826, hai người Ý đã tìm ra chất chính của vỏ cây liễu một chất gọi là salicin và ba năm sau một hóa học gia người Pháp đã thành công khi tìm ra một chất dưới dạng thuần túy. Năm 1839, một hóa học gia khác người Ý đã lấy salycilic acid  từ chất salicin và từ đó chất chính của aspirin được lấy ra từ cây liễu và cây dâu dê.Ngày nay chất này được tổng hợp, dùng phương pháp không khác nhiều lắm với phương pháp mà Herman Kolbe đã tìm ra tại Strasbourg vào năm 1874.
 
Mãi đến năm 1971 các nhà nghiên cứu ở Anh mới tìm ra tại sao aspirin lại công hiệu như vậy. Prostaglandins, một nhóm như kích thích tố tìm thấy ở hầu hết các mô bào của cơ thể có vẻ như làm tăng sự nhạy cảm của đoạn cuối dây thần kinh tại nơi bị viêm và aspirin dường như có liên hệ tới công dụng của các chất này.
 
Sau này aspirin trở thành một phần của các chất được biết với tác dụng chống viêm mà ngày nay bao gồm cả các dược phẩm mới tìm ra là ibuprofen. Đến năm 1980, aspirin bị paracetamol qua mặt. Paracetamol  được dùng lần đầu vào năm 1893 như một chất giảm đau rất bình dân của mọi người.

Các nhà khoa học đều nhìn nhận đường là một chất không thể thiếu được trong một chế độ dinh dưỡng quân bình. Tuy nhiên một sự thặng dư đường có thể là đầu mối của biết bao nhiêu là bệnh tật như béo phì, tim mạch, và tiểu đường... Có rất nhiều loại đường trên thị trường với những danh xưng tuy khác nhau nhưng có cùng chung một đặc tính là tạo vị ngọt.
Trong mỗi người chúng ta đều chất chứa những điều tốt lẫn điều xấu. Theo nhà phân tâm học N. Chatillon thì chính sự tương đồng hoặc sự khác biệt với người khác làm mình bối rối khó chịu và mình không thể xác định được căn tánh (identité) của chính mình. Vậy cách tự vệ tốt nhất là mình là phải tấn công người ta qua việc phán xét, chỉ trích họ thẳng thừng không thương tiếc. Tâm lý chung là người đời là thường hay nói ra những gì xấu xa hơn là những tốt đẹp. Điều tiêu cực trong ta càng nhiều chừng nào thì chứng tỏ tâm ta càng bất an chừng đó cho nên cần phải tung bớt áp lực ra ngoài. Có ai đang sống trong sự sung sướng và hạnh phúc mà lại thấy cần phải tuôn điều xấu ra ngoài hay đi bươi móc kiếm chuyện với người khác bao giờ đâu.
Bệnh Chân Lực Sĩ athlete’foot là bệnh rất thường xẩy ra ở mọi người và thường thấy ở các khe ngón chân.Nguyên nhân là các loại nấm.Bệnh thường thấy ở con trai chưa tới tuổi dậy thì. Ở người trưởng thành, cứ sáu người nam thì một người nữ mắc bệnh, nhưng nguyên nhân là do thói quen không đẹp chứ không phải vì sinh học.
Bênh liệt kháng Sida mèo do virus FIV(Feline immunodeficiency virus)gây ra và không ảnh hưởng đến người và các thú vật khác. Các nhà khoa học ước lượng tại Bắc Mỹ có thể có vào khoảng từ 1% đến 5% mèo nhà, có tiềm năng bị nhiễm bệnh liệt kháng.
Đối với người Việt Nam, cơm là thức ăn chánh. Người mình, dù sống bên nhà hay tại hải ngoại, ai ai cũng đều ăn cơm hết. Ngoại trừ thỉnh thoảng vì hoàn cảnh đặc biệt, chẳng hạn như lúc phải nằm bệnh viện hay chỉ vì muốn đổi món, đổi gu, trong đôi ba bữa chúng ta bèn bỏ cơm để ăn hủ tíu, phở, bún,macaroni, mì, bánh mì, khoai Tây, hoặc pizza vv...nhưng đây cũng chỉ là những món ăn phụ, ăn tạm thế cơm mà thôi.
Thăm dò 2011/2012 của APPA (American Pet Products Association) cho biết trên 72.9 triệu gia đình ở Hoa Kỳ có nuôi thú cảnh pets (chó, mèo, chim, cá, rùa rắn v,v…). Số chó nuôi chiếm trên 78 triệu con và mèo bốn cẳng trên 86.4 triệu con. Ngoài ra còn những loại thú khác như chim (16.2 triệu con)… Năm 2011, Hoa Kỳ chi trên 50 tỉ $ cho kỹ nghệ thú cảnh.
Trái banh ném đi tùy thuộc vào chiều dài của cánh tay người cầu thủ ném bóng và sức mạnh ở vai.Cánh tay càng dài và vai càng mạnh thỉ trái banh càng đi xa. Ngay khi sinh ra, cánh tay nam giới thường dài hơn là cánh tay nữ giới. Tới tuổi dậy thì, nam giới có được cái lợi thứ hai là khi testosterone làm vai lớn lên và cơ bắp ở lồng ngực dầy ra. Kết quả của kích thích tố tăng trưởng này là phần trên của cơ thể mạnh hơn phần cơ thể của nữ giới tới từ hai tới ba lần.Vì thế tại sao nữ lực sĩ lại có vẻ kém nam lực sĩ ở các môn thể thao như nói về sức mạnh về ném.
Tại Canada, dân sống ven sông và vùng duyên hải thường có thú đào vớt nghêu sò. Tuy nhiên,ít có người ý thức rằng các loại thủy sản này đôi khi có thể là mối đe dọa cho sức khỏe. Hằng năm, chuyện ngộ độc nghêu sò vẫn thấy thỉnh thoảng xảy ra, nhất là vào dịp hè, mùa mà mọi người đổ xô ra những bãi cát và bãi biển để vui chơi và nghỉ mát. Có người nói rằng sò hến rất bổ cho sex, hổng biết có phải vậy không?
Mì gói du nhập vào Việt Nam từ những năm 60 và đã trở nên khá phổ biến trong mọi tầng lớp của xã hội miền Nam. Mì gói còn được gọi là mì ăn liền, mì ramen, mì hành, mì cua, mì hai tôm, Kung Fu, Vifon, v,v…có thể được xem như fast food kiểu VN ăn ở nhà. Mì có nhiều dạng: gói, hộp, ly, tô. Nó là vị cứu tinh của những kẻ độc thân, của sinh viên, học sinh nghèo, của người quá bận rộn, của kẻ làm biếng nấu nướng mất công…và trong trường hợp vợ chồng bận gây lộn. Trong thực tế, mì gói thường dùng như một món ăn chơi cho đỡ dạ (snack)
Đây là rối loạn về sự tiêu hóa mà tiếng Anh gọi là Anorexia nervosa với đặc tính là bệnh nhân từ chối ăn.Người bệnh có quan niệm sai về cơ thể của mình và ám ảnh sợ bị mập vì họ cứ nghĩ là mình mập mặc dù khi cân thì lại là gầy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.