Hôm nay,  

Lịch Sử Viên Aspirin

10/07/202000:00:00(Xem: 6952)

 

BS Nguyen Y Duc

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

Đa số những cơn đau mà con người thường gặp không phải gây ra do giải phẫu hoặc mới bị thương mà thuốc mê có thể dùng để chữa nhưng còn những cơn đau kinh niên như viêm xương khớp hoặc đau ngắn hạn như nhức đầu và đau răng thì chữa bằng cách nào. Với các đau này, một loại dược phẩm rất cần để giảm đau trong khi đó ta vẫn có thể đi làm được.
 
Vào mùa hè năm 1758, đức cha Edward Stone, ở Chipping Norton bên Anh bị sốt và viêm xương khớp. Vô tình ngài  đã nhai cành của cây liễu trắng rất đắng , ngài rất ngạc nhiên mà thấy rằng cơn đau giảm. Ngài liền nghĩ ra cách để phơi khô  và làm thành bột vỏ cây này và thử nghiệm để kiếm một liều hiệu nghiệm nhất.Trong vòng năm năm sau ngài tặng món thuốc này cho năm mươi người khác và đều thấy công hiệu. Vui mừng với sự khám phá của mình, ngày 25 tháng Tư năm 1763, ngài viết một bức thư cho bá tước Macclesfield, Hội trưởng Hoàng Gia, nhưng không được hồi âm.
 
Năm 1820, dược sĩ Thụy Sĩ Johana S.F. Pagenstecher bắt đầu lấy  một chất từ lá  của cây Spirea ulmaria, thường được gọi là lá dâu dê, rất công hiệu để giảm đau trong y học dân gian.
 
Báo cáo của Pagenstecher trên báo khoa học được đọc vào năm 1835 bởi nhà hóa học người Đức Karl Jacob Lowig, giáo sư hóa học ở Montpellier Uniniversity. Ông cũng cố gắng thay đổi lá cây Spirea ulmaria để loại bỏ tác dụng phụ quan trọng như cơn đau kích thích lớp lót của bao tử nhưng ông ta thấy phương pháp quá mất thì giờ cho nên đã bỏ.
 
Salicylic acid chỉ được một số người mà cơn đau trầm trọng hơn cơn đau của chính dược phẩm.Một trong những người đó là Her Hoffma, sống ở thành phố Đức quốc Elberfield và bị bệnh viêm khớp khiến ông bị què quặt.Con trai của ông ta là một hóa học gia làm việc tại Bayer, một hãng dược phẩm rất lớn ở gần đó và vào năm 1895 anh ta quyết định thử nó để làm bớt cơn đau của bố. Anh ta làm giản dị hóa phương pháp của Gerhard và làm ra aceytylsalicylic acid. Hoffman bèn lấy một lọ nhỏ và đưa cho bố và ông này đã có một đêm hết đau trong nhiều năm. Về sau này người ta mới biết rằng thuốc đó không phải chỉ giảm cơn đau mà còn hạ nhiệt độ và viêm.
 
Đồng nghiệp của Hoffman là ông Heinrich Dresser nhận ra rằng dược phẩm mới có tác dụng rất tốt vì nó chia làm hai ở máu.Để thử giả thuyết của mình, ông ta bèn nuốt chửng một số acetylsalicylate và thường xuyên thử nước tiểu trong vòng 12 giờ.Ông đã tìm ra dấu vết của salicylic acid  nhưng không thấy chất acetylsalicylate: hợp chất quả có tách làm hai.
 
Đến năm 1899,Hopffman và Dreser đặt tên cho dược phẩm mới tìm ra của mình:aspirin- chữ a cho acetyl, spir cho Spirea. Năm sau, công ty dược phẩm Bayer  xin bản quyền cho aspirin, cho các hợp chất trực tiếp của hãng và hình dáng của các dụng cụ của hãng và bắt đầu bán một sản phẩm rất phổ biến trên thế giới.
 
Năm 1914, để đề phòng sự lớn mạnh của chiến tranh và cũng để ngăn cản sự cung cấp của nước Đức, chính phủ Anh bèn tặng 20,000 bảng Anh cho những ai sống tại chính quốc hoặc ở Liên Hiệp Anh đã tìm ra một chất mới cho aspirin mà vẫn tránh né được bản quyền của Bayer.Chính quyền Úc Đại Lợi bèn tặng thêm 5000 bảng anh để khích lệ và hóa học gia George Nicholas nhận lời thách đố đó. Dùng các dụng cụ rất sơ sài và gần như mù vì phòng thí nghiệm của mình bị nổ, ông ta tìm ra một cách để tạo ra một chất aspirin hết sức thuần túy và thắng giải.
 
Sau khi nước Đức thua trận, công ty British Alien Properties Custodian tịch thu tên “aspirin” và công ty Bayer mất bản quyền cả tên lẫn việc sản xuất dược phẩm. Trong số những cơ sở bắt đầu làm hợp chất  là của George Nicholas; và sản phẩm “Aspro” của ông trở thành một loại aspirin bán nhiều nhất ngoại trừ nước Mỹ. Tại nước Mỹ, công ty dược phẩm Sterling, mặc dù đã không liên lạc với công ty Đức, tiếp tục sản xuất aspirin dưới dạng “Bayer”, một tên riêng. Xin nói rõ,  tên riêng (Trademark) là một thương hiệu hàng hóa riêng, trong đó chứa đựng bất kỳ chữ, tập hợp của nhiều chữ, tên riêng và biểu tượng nào. Những từ ngữ này đã từng được sử dụng hoặc sẽ được đưa vào sử dụng trong thương mại để nhận dạng, phân biệt và giúp chỉ ra xuất xứ hàng hóa.
 
Nhưng khám phá về vỏ cây liễu của ngài Stone trong mấy năm về trước không phải là không được dể ý tới. Năm 1826, hai người Ý đã tìm ra chất chính của vỏ cây liễu một chất gọi là salicin và ba năm sau một hóa học gia người Pháp đã thành công khi tìm ra một chất dưới dạng thuần túy. Năm 1839, một hóa học gia khác người Ý đã lấy salycilic acid  từ chất salicin và từ đó chất chính của aspirin được lấy ra từ cây liễu và cây dâu dê.Ngày nay chất này được tổng hợp, dùng phương pháp không khác nhiều lắm với phương pháp mà Herman Kolbe đã tìm ra tại Strasbourg vào năm 1874.
 
Mãi đến năm 1971 các nhà nghiên cứu ở Anh mới tìm ra tại sao aspirin lại công hiệu như vậy. Prostaglandins, một nhóm như kích thích tố tìm thấy ở hầu hết các mô bào của cơ thể có vẻ như làm tăng sự nhạy cảm của đoạn cuối dây thần kinh tại nơi bị viêm và aspirin dường như có liên hệ tới công dụng của các chất này.
 
Sau này aspirin trở thành một phần của các chất được biết với tác dụng chống viêm mà ngày nay bao gồm cả các dược phẩm mới tìm ra là ibuprofen. Đến năm 1980, aspirin bị paracetamol qua mặt. Paracetamol  được dùng lần đầu vào năm 1893 như một chất giảm đau rất bình dân của mọi người.

Trong cuốn “Bông hồng cài áo” Thiền Sư Thích Nhất Hạnh có viết rằng: “Có một ngày tôi đi với thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza, Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy trong giỏ xách một bông hoa cẩm chướng màu trắng, cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng“.
Phật pháp là lời dậy của bậc giác ngộ, của đức phật trong phật pháp, bồ đề được định nghĩa là sự giác ngộ. Có lúc các hàng phật tử, có người muốn biết xem giác và ngộ, chủ đề nào tới trước, chủ đề nào tới sao? Giác ngộ chính là tâm yếu của những gì đức phật thuyết giảng cho các đệ tử. Có người cho rằng ngộ là chính yếu của phật giáo đại thừa. Phật giáo nguyên thủy cũng nhấn mạnh đến sự thành tựu bồ đề. Tất cả trong mọi trường hợp, nói đến bồ đề là phải khơi lại căn bản kinh nghiệm về ngộ.
Dù bên ngoài trời khá nóng, nhiều nhân viên văn phòng, đặc biệt là các chị các cô, vẫn phải mặc áo len và khoác áo khoác, trùm kín mít mà nhiều khi vẫn bị sụt sịt – vì trong văn phòng làm việc mở máy lạnh quá lạnh. Hiện tượng này được gọi là “women’s winter” (xin được tạm dịch là “mùa đông của các nàng”). Mặc dù có thể bắt gặp rất nhiều clip hài hước về hiện tượng này trên TikTok, nhưng vấn đề này lại không phải chuyện đùa. Thomas Chang, một kinh tế gia tại Đại học University of Southern California, cho biết: “Nếu không thoải mái, con người không thể làm việc hiệu quả. Điều này nghe có vẻ hiển nhiên không cần phải nói, nhưng đó là kết quả thật sự từ một nghiên cứu hẳn hoi.”
Mùa hè đã đến và nhiều người dân California đang hướng tới thời tiết ấm áp hơn với những điều kỳ diệu của hoạt động ngoài trời cùng bạn bè và gia đình. Trước khi tham gia giải trí bên ngoài, hãy nhớ nghĩ đến tác động của bạn và góp phần giữ sạch cảnh quan thiên nhiên chung để bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên. Caltrans, Clean California và Công Viên Tiểu bang California đề xuất một số mẹo đơn giản để giúp giữ cho không gian công cộng và cộng đồng được an toàn, không có rác và mảnh vụn:
Đứng giữa sự nhộn nhịp và hỗn loạn của sân bay, bạn cảm thấy vừa hồi hộp vừa hào hứng chờ chuyến bay đưa mình đến điểm kế tiếp. Bạn cố rướn cổ để quan sát dòng người đang tiến về phía quầy kiểm tra an ninh. Bạn không quá lo lắng - thời gian chờ đợi tại sân bay có vẻ không đến nỗi quá dài. Nhưng khi đến đầu hàng và đưa thẻ lên máy bay “boarding pass” cho nhân viên an ninh TSA mặt trông nghiêm nghị, bạn bắt đầu cảm thấy căng thẳng. Cả hai đều nhận thấy dòng chữ "SSSS" đáng ngại in đậm nét trên tấm thẻ lên máy bay trên tay bạn. Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?
Theo FBI, người cao niên trên 60 tuổi ở Hoa Kỳ đã mất hơn 3 tỷ MK vào tay những kẻ lừa đảo vào năm 2023. Để dễ hình dung con số này lớn cỡ nào, Eras Tour của Taylor Swift gần đây được loan tin là chuyến lưu diễn đầu tiên kiếm được 1 tỷ MK. Nghĩa là, số tiền mà người cao niên ở Hoa Kỳ bị lừa nhiều gấp ba lần số tiền từ tour diễn thành công vang dội của Taylor Swift.
Lớn lên ở Ấn Độ, tôi thường đến thăm ông bà ở Kolkata vào các kỳ nghỉ hè. Cứ chiều chiều, bà tôi lại trải chiếu, ngồi đối diện với phòng thờ. Trong khoảng nửa tiếng, bà ngồi yên, nhắm mắt, tay lần chuỗi hạt, thì thầm niệm Krishna. Về mặt khách quan, khó có thể biết liệu những buổi thiền đó có giúp bà kết nối với cõi linh thiêng hay không, nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy bà được hưởng nhiều lợi ích từ thiền định. Thiền định có thể là một phương pháp hiệu quả giúp bà kiểm soát căng thẳng, đình trệ quá trình suy giảm trí tuệ do lão hóa, và tăng cường khả năng chịu đau.
Mặc dù thoạt nhìn thì thiền định có vẻ khá đơn giản, chỉ là việc ngồi yên lặng một chỗ, nhưng thực tế, việc tịnh tâm và để tâm trí tập trung vào tĩnh lặng lại không hề đơn giản chút nào! Một số nghiên cứu gần đây gợi ý rằng có một yếu tố có thể giúp đưa chúng ta vào trong trạng thái thiền định: âm thanh. Cho dù đang lắng nghe giai điệu bài hát yêu thích, hay đang tham gia một buổi sound bath trong không gian thư giãn với tiếng chuông ngân, tiếng cồng chiêng, và tiếng chuông, âm thanh không chỉ giúp chúng ta dễ bước vào trạng thái thiền định, mà còn có thể tăng cường những lợi ích của thiền.
Giọng nói của con người có lẽ là nhạc cụ lâu đời nhất và đa dạng nhất: có khả năng phát ra cả tiếng nói và tiếng hát. Nhưng lý do tại sao con người lại tạo ra âm nhạc vẫn là một câu hỏi gây tò mò và làm bối rối các khoa học gia suốt hàng thế kỷ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.