Hôm nay,  

Suy Niệm Phật Giáo Về Sinh Tử

3/1/202604:28:00(View: 2914)
blank

Suy Niệm Phật Giáo Về Sinh Tử
 

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

 

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính thưa quý tôn đức tăng ni

Kính thưa quý tang quyến, và quý thân hữu
 

Hôm nay là ngày tang lễ cụ Bà quả phụ Nguyễn Đình Liễn, nhũ danh Phan Thị Đinh, pháp danh Nguyên Thủy, hưởng đại thọ 95 tuổi. Cụ bà là mẹ của bạn Nguyễn Đình Bích, người bạn thân của con từ thời học lớp 6, tức là lớp Đệ Thất ngày xưa. Tình bạn này đã có hơn sáu thập niên. Anh Nguyễn Đình Bích đã yêu cầu con nói trong tang lễ về đề tài Suy Niệm Phật Giáo Về Sinh Tử.

Kính thưa hương linh cụ Bà quả phụ Nguyễn Đình Liễn, nhũ danh Phan Thị Đinh, pháp danh Nguyên Thủy

Kính thưa tất cả các hương linh và các vị phi nhơn quanh đây

Cụ bà là một người có phước lớn, vì trong hàng con cháu có vài chục người là bác sĩ. Cụ bà có cơ duyên định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1975. Người phước lớn như thế là do suốt đời sống giới hạnh, làm việc thiện, đã bố thí và cúng dường tạo phước từ lâu.

Hôm nay, trong giờ phút trang nghiêm và xúc động này, chúng ta cùng có mặt nơi đây để tiễn đưa thân mẫu của người bạn thân yêu của chúng ta. Sự ra đi của một người mẹ luôn để lại khoảng trống sâu thẳm trong lòng con cháu. Trong tinh thần Phật giáo, con xin được chia sẻ vài suy niệm về sinh tử — như một lời an ủi và cũng là một ánh đèn chánh pháp soi sáng giữa mất mát.

Con tên là Phan Tấn Hải, viết các sách Phật học với pháp danh là Nguyên Giác, là cựu Chủ Bút Tạp Chí Giao Điểm, cựu Chủ Bút Nhật Báo Việt Báo. Con sẽ nói từ Kinh Phật và sẽ nói rất dễ hiểu, đơn giản.
 

Đức Phật nói rằng cuộc sống là khổ. Khổ nơi thân, khổ nơi tâm. Sinh ra là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ. Khi một chúng sinh từ trần, thức tái sinh lại dẫn tới thọ nhận một thân và tâm khác, và lại thọ nhận khổ tiếp. Muốn thoát khổ sinh tử luân hồi, chúng ta cần phải xa lìa tham, xa lìa sân, xa lìa si mê. Người nào thường trực chánh niệm, thường trực xa lìa tham sân si là sẽ thoát khỏi luân hồi, sẽ vào Niết Bàn, sẽ bất tử, sẽ tịch lặng, sẽ an lạc, sẽ hạnh phúc.

Cái chết là phần tất yếu, vì có sinh ra thì sẽ có chết đi. Cái chết ở ngay bên cạnh chúng ta, ngay trong hơi thở chúng ta, vì hễ tắt thở là ra đi. Trong từng khoảnh khắc, hàng tỷ tế bào trong chúng ta sinh ra và chết đi. Chỉ trong vài ngày, chúng ta có thân và tâm mới.

Chúng ta nên nhìn về đời sống thế nào? Kinh AN 7.74 Sutta ghi lời ngài Araka về ý nghĩa đời người.

Cũng như giọt sương trên đầu ngọn cỏ nhanh chóng tan biến khi mặt trời mọc và không ở lại lâu, cũng vậy, đời người giống như một giọt sương – hữu hạn, phù du, đầy khổ đau và tuyệt vọng. Đối với người sinh ra thì không có sự giải thoát khỏi cái chết.

Cũng như một vạch kẻ trên mặt nước bằng que gỗ nhanh chóng biến mất và không tồn tại lâu, cũng vậy, đời người giống như một vạch kẻ trên mặt nước bằng que gỗ—hữu hạn, tầm thường, đầy khổ đau và tuyệt vọng. Đối với người sinh ra thì không có sự giải thoát khỏi cái chết.

Cũng như một dòng sông chảy xuống từ núi cao, đi xa, dòng chảy xiết, cuốn trôi mọi thứ, đến nỗi không có một khoảnh khắc, một giây phút nào nó đứng yên, mà thay vào đó nó cứ chảy xiết và ào ạt, thì cũng vậy, đời người giống như một dòng sông chảy xuống từ núi cao—hữu hạn, tầm thường, đầy khổ đau và tuyệt vọng.

Đối với người sinh ra thì không có sự giải thoát khỏi cái chết. Chúng ta nên thấu hiểu để sống như một bậc hiền triết, làm điều khôn ngoan, sống đời thánh thiện, xa lìa tham sân si để vĩnh viễn lìa sinh tử.
 

Đức Phật nói trong Kính Pháp Cú, rằng cái chết đã có ngay trong từng hơi thở và chúng ta phải khẩn cấp nghĩ tới con đường giải thoát rằng.

Bài kệ 237. Cuộc đời người đã đến hồi kết; Ngươi đang lên đường đến với Yama, vua của cái chết. Không có nơi nghỉ chân nào cho ngươi trên đường đi, vậy mà ngươi lại chẳng chuẩn bị gì cho chuyến đi!

Bài kệ 238. Hãy tạo cho mình một hòn đảo riêng! Hãy nỗ lực hết mình và trở nên trí tuệ! Hãy xóa bỏ những bất tịnh của tham sân si, ngươi sẽ không sinh, không già, không chết nữa.

Bài kệ 239. Từng chút một, từng bước nhỏ, từng khoảnh khắc một, người trí tuệ hãy xóa bỏ những bất tịnh của tham sân si của chính mình, như người thợ rèn loại bỏ tạp chất ra khỏi bạc.

Như vậy, con đường nào để giải thoát? Con đường nào để xa lìa sinh tử? Trước tiên, hãy ý thức rằng trong cõi mênh mông của vũ trụ, sinh ra làm người thật khó, và để nghe Chánh pháp chư Phật cũng thật khó. Kinh Pháp Cú giải thích về con đường giải thoát nghe thì dễ, nhưng thực hiện rất là khó, cần phải tinh tấn, thường trực tu trong từng giây phút.

Bài kệ 183. Hãy tránh mọi điều ác, hãy tu dưỡng các điều thiện, và hãy làm trong sạch tâm mình --  đó là lời dạy của chư Phật.

 
Như thế, làm sao để giải thoát? Có một cách là thường trực nhận ra pháp ấn vô thường. Duyên khởi cho Bài Kệ 170 trong Kinh Pháp Cú là, một lần nọ, năm trăm vị sư, sau khi nhận một đề tài thiền định từ Đức Phật, đã vào rừng để thực hành thiền định. Nhưng họ tiến bộ rất ít; vì vậy họ trở về gặp Đức Phật để xin một đề tài thiền định thích hợp hơn. Trên đường đến gặp Đức Phật, họ nhìn thấy một ảo ảnh và thiền định về nó. Ngay khi họ vào khuôn viên tu viện, một cơn bão nổi lên; khi những giọt mưa lớn rơi xuống, những bọt nước do mưa rơi hình thành trên mặt đất và nhanh chóng biến mất. Nhìn thấy những bong bóng nước  đó, các vị sư suy ngẫm rằng thân người cũng hư hoại như những bong bóng nước đó, và thấy được bản chất vô thường của các yếu tố hình thành thân và tâm.

Đức Phật lúc đó hiện ra và đọc bài thơ trong Pháp Cú:

Bài Kệ 170: Kẻ nào nhìn thế giới rỗng không như một bọt nước, và như một ảo ảnh quang học, thì Thần Chết không thể nhìn thấy kẻ đó.

Nghe xong bài kệ, năm trăm vị sư đó đã đạt được thánh quả A La Hán, tức là vĩnh viễn xa lìa khố ách.
 

Cách giải thoát thứ nhì là nhận ra pháp ấn vô ngã, tức là thấy không có gì là tự ngã, không gì là tôi, và không gì là của tôi. Một câu chuyện tương tự với bài kệ 279 của Kinh Pháp Cú. Một hôm, trong một buổi họp với 500 vị sư, Đức Phật đọc:

Bài Kệ 279: Tất cả các hiện tượng đều không có tự ngã. Ai nhìn thấy như thế bằng trí tuệ, người đó sẽ rời bỏ khổ đau. Đó là con đường dẫn đến trong sạch tâm ý.

Toàn bộ 500 vị sư lúc đó nghe xong, liền chứng quả A La Hán, hoàn toàn giải thoát.
 

Làm thế nào để thấy rằng không hề có cái gì là tự ngã? Làm sao để thấy không có cái gọi là tôi, không có cái gọi là của tôi? Trước tiên, hãy nhìn thấy luật duyên khởi. Nếu cái này có, thì cái kia có; nếu cái này diệt, thì cái kia cũng diệt. Bất kỳ cái gì trong cõi này cũng đều duyên sinh như thế. Thấy duyên khởi, tức là thấy vô ngã.

Cũng y hệt tiếng đàn, có chẻ cây đàn ra trăm ngàn mảnh cũng không dò ra tiếng đàn nơi đâu. Nhưng tiếng đàn là từ cây đàn, từ mưa nắng qua nhiều năm cho gỗ rừng mọc lên, rồi thợ rừng cưa xuống để đóng thành cây đàn, từ người nhạc sĩ học nhiều thập niên để trình diễn, từ rất nhiều duyên mới thành tiếng đàn. Không gọi tiếng đàn là Có, vì nó là từ nhiều duyên, vì vừa sinh đã liền biến mất và vì chúng ta không chỉ ra được là nó ở đâu. Không gọi tiếng đàn là Không, vì tiếng đàn đã làm nhiều người nghe lúc vui, lúc buồn. Do vậy, Bát Nhã Tâm Kinh nói rằng Sắc tức là Không, và ngược lại, Không cũng chính là Sắc.

Sắc là tất cả những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc cảm thọ, được tư lường. Sắc là Không. Và ngược lại, Không chính là tất cả những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc cảm thọ, được tư lường. Khi tâm lìa cả Có và Không, đó là vào thực tướng Vô Ngã. Đó là khi ngôn ngữ dứt bặt, vì nói Có, nói Không đều sai.
 

Như thế, chúng ta cần giữ cái nhìn thường trực về  thực tướng: trong Lý duyên khởi, tất cả các pháp dựa vào nhau, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt, cũng có nghĩa là trong các duyên kết hợp, chuyển động lung linh để làm cho một thân-tâm đang đi đứng nằm ngồi thực sự là đang ngồi trong vô sinh, đang tịch lặng, đang trống không, tức là đi đứng nằm ngồi cũng chính là đang ngồi bất động trong Lý duyên khởi. Thấy được như thế, nói theo Thiền là Thấy Tánh, là đang ngồi bất động trong Niết Bàn, vì đang đi đứng nằm ngồi mà thấy không hề có ai đang đi đứng nằm ngồi.

Tích Truyện Pháp Cú số 348 kể rằng, khi chàng nghệ sĩ xiếc Uggasena đang trình diễn ở trên một cây sào cao giữa một quảng trường, Đức Phật bước tới nhìn các màn nhào lộn của chàng nghệ sĩ xiếc. Chàng Uggasena ngừng lại, đang ở trên cây sào.

Đức Phật đọc Bài kệ 348: Hãy buông bỏ quá khứ, hãy buông bỏ tương lai, hãy buông bỏ hiện tại, và vượt qua đến bờ bên kia của cõi đời. Với tâm hoàn toàn giải thoát, ngươi sẽ không còn sinh tử nữa.

Chàng nghệ sĩ xiếc Uggasena nghe xong, ngay tức khắc chứng quả A La Hán, giải thoát khỏi sinh từ. Chỉ đon giản là khi chúng ta nghĩ là có một cái tự ngã nào, thì nó luôn luôn là trong một không gian và thời gian nào đó. Nếu thấy tất cả thân và tâm mình đều là không, nghĩa là đã thấy không có gì trong cả ba thời, thì không còn bị trói buộc nữa. Nghĩa là, không có gì để nắm giữ trong tâm nữa, dù là quá khứ, hiện tại và tương lai.
 

Làm thế nào để buông bỏ hết, để không nắm giữ gì trong cả ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai? Trong Kinh Bahiya Sutta, Đức Phật dạy rằng hãy để các pháp nó như thế là như thế, đừng nuối tiếc, đừng mơ tưởng, đừng nắm giữ, cụ thể là hãy để cái được thấy là cái được thấy, để cái được nghe là cái được nghe, và tương tự với tất cả những gì thấy, nghe, hay, biết. Đức Phật nói, đó là giải thoát tức thời.

Thiền Tông gọi đó là vô tâm, tức là thấy tâm mình như mặt gương sáng, ảnh hiện rồi biến mất tức khắc. Tương tự, đó là khi tai nghe tiếng chim kêu, tiếng lá rơi, tiếng đàn khởi lên rồi biến tức khắc. Hình ảnh do nhiều duyên tới, hiện lên trong gương như không từ đâu tới, và biến đi không về đâu. Cái được nghe cũng như thế. Thấy tất cả đều là Không như thế, là giải thoát, là sẽ không bị ràng buộc vào sinh tử luân hồi nữa.

Làm thế nào nhận ra tâm đó? Có một cách đơn giản. Bây giờ, con gõ tay xuống bàn để gây ra một tiếng động. Ngay khi quý vị ở đây nghe, tỉnh thức, nhận biết rằng có một tiếng động được nghe, lúc đó tâm quý vị chỉ là tiếng động đó, không là gì khác. Nếu tỉnh thức trong thấy và nghe chỉ như thế, sẽ không có tham sân si nào hiện ra. Thì lúc đó, quý vị đang tỉnh thức trong chánh niệm: Pháp này thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu. Thường trực như thế là sẽ giải thoát ngay trong kiếp này.
 

Chúng ta có thể tin rằng cụ bà sống một đời thiện lành, đại phước như thế, tất nhiên bây giờ cụ bà đã tái sinh trên các cõi trời. Trong truyền thống Phật giáo của Việt Nam, trong thời gian 49 ngày sau khi cụ bà từ trần, tang gia nên  tụng kinh, làm phước, cúng dường, phóng sinh, bố thí, tạo nghiệp lành, sống tỉnh thức… rồi hồi hướng công đức cho hương linh. Thời gian 49 ngày không chỉ dành cho người đã khuất, mà cũng là thời gian cho người ở lại chuyển hóa nỗi đau.

Đức Phật không dạy chúng ta phủ nhận nỗi buồn. Ngài cũng từng xúc động trước cái chết của người thân cận. Nhưng Ngài dạy chúng ta nhìn sâu vào bản chất vô thường để thấy rằng sinh tử là một phần của dòng đời. Hôm nay, chúng ta tiễn đưa một người mẹ hiền. Thân tứ đại đã trả về cho đất nước gió lửa. Nhưng tình thương, lời dạy, đức hạnh của cụ bà vẫn còn tiếp nối nơi con cháu.
 

Trong ánh sáng Phật pháp, chúng ta không chỉ nói lời vĩnh biệt. Chúng ta hãy nói lời hồi hướng:

Nguyện cho hương linh nương nhờ công đức này mà được an lành. Nguyện cho người ở lại hiểu sâu về vô thường, vô ngã để sống trọn vẹn hơn trong từng ngày. Và nguyện cho tất cả chúng ta, trong từng khoảnh khắc, trong từng hơi thở đều giữ được tâm bình an và chánh niệm.

Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

.... o ....

ENGLISH VERSION:

Buddhist Reflections on Life and Death

By Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Namo Shakyamuni Buddha.

Venerable monks and nuns,

Dear family members and friends,

Today is the funeral of Madam Nguyễn Đình Liễn, née Phan Thị Đinh, Dharma name Nguyên Thủy, who lived to the venerable age of 93. She is the mother of my dear friend Nguyễn Đình Bích, whom I have known since sixth grade—more than sixty years of friendship. He asked me to speak today on the topic Buddhist Reflections on Life and Death.

Dear spirit of Madam Nguyễn Đình Liễn, née Phan Thị Đinh, Dharma name Nguyên Thủy,

Dear spirits present here, and all the unseen beings here,

She was a woman of great merit. Among her children and grandchildren are dozens of physicians. She had the good fortune to settle in the United States in 1975. Such blessings arise from a lifetime of virtuous conduct—keeping precepts, doing good, giving generously, and supporting the Dharma.

Today, in this solemn and emotional moment, we gather to accompany the mother of our beloved friend on her final journey. The passing of a mother leaves a deep emptiness in the hearts of her children. In the spirit of Buddhism, I would like to offer a few reflections on life and death—as a gesture of comfort and as a small lamp of Dharma in a time of loss.

My name is Phan Tấn Hải. I write Buddhist books under the Dharma name Nguyên Giác, and I am the former editor-in-chief of Giao Điểm magazine and Việt Báo newspaper. What I share today comes from the Buddha’s teachings, expressed simply and clearly.

The Buddha taught that life is suffering—suffering of the body, suffering of the mind. Birth is suffering, illness is suffering, aging is suffering, and death is suffering. When a being dies, consciousness takes rebirth, receiving a new body and mind, and suffering continues. To be free from the cycle of birth and death, we must let go of greed, anger, and delusion. Whoever lives with constant mindfulness, free from greed, anger, and delusion, will escape the cycle of rebirth and enter Nirvana—deathless, peaceful, silent, and joyful.

Death is inevitable. Where there is birth, there will be death. Death is right beside us, in every breath—when the breath stops, we depart. In every moment, billions of cells in our body arise and pass away. Within a few days, we already have a new body and mind.

How should we look at life? The AN 7.74 Sutta records the words of the sage Araka on the nature of human life.

Just as a drop of dew on the tip of a blade of grass quickly evaporates when the sun rises, so too is human life—brief, fragile, full of suffering and disappointment. For one who is born, there is no escape from death.

Just as a line drawn on water with a stick disappears instantly, so too is human life—fleeting, ordinary, full of suffering and disappointment. For one who is born, there is no escape from death.

Just as a mountain stream rushes downward, never pausing even for a moment, sweeping everything along, so too is human life—brief, ordinary, full of suffering and disappointment. For one who is born, there is no escape from death.

Understanding this, we should live wisely, like a sage—doing what is wholesome, living a noble life, letting go of greed, anger, and delusion so that we may forever leave behind birth and death.
 

In the Dhammapada, the Buddha teaches that death is present in every breath, and we must urgently reflect on the path of liberation:

Verse 237: Your life is coming to its end; you are on your way to Yama, the lord of death. There is no resting place along the road, yet you have made no preparation for the journey!

Verse 238: Make an island for yourself! Strive diligently and become wise! Cleanse your mind of greed, anger, and delusion, and you will no longer be born, grow old, or die.

Verse 239: Little by little, moment by moment, the wise remove their impurities, just as a silversmith purifies silver.

So what is the path to liberation? First, recognize how rare it is to be born as a human, and how rare it is to hear the Buddha’s teachings. The Dhammapada explains that the path sounds simple, but practicing it is difficult. It requires diligence and continuous effort in every moment.

Verse 183: Avoid all evil, cultivate all good, and purify your mind— this is the teaching of all Buddhas.

One way to liberation is to constantly recognize impermanence. The story behind Dhammapada verse 170 tells of five hundred monks who, after receiving a meditation subject from the Buddha, went into the forest to practice but made little progress. On their way back to ask for new instructions, they saw a mirage and meditated on it. As they entered the monastery, a storm broke out, and raindrops formed bubbles on the ground that quickly burst. Seeing this, they reflected on the body’s fragility and the impermanence of all physical and mental elements.

The Buddha appeared and recited:

Verse 170: Whoever sees the world as a bubble, as an illusion, the Lord of Death cannot find them.

Upon hearing this verse, all five hundred monks attained arahantship—complete liberation.

A second way to liberation is to recognize non-self: that nothing is “me” or “mine.” In Dhammapada verse 279, the Buddha taught:

“All phenomena are not-self. When one sees this with wisdom, one turns away from suffering. This is the path to purity.”

All five hundred monks present attained arahantship.

How do we see that there is no self? By understanding dependent origination: when this exists, that exists; when this ceases, that ceases. Everything arises from conditions. Seeing dependent origination is seeing non-self.

It is like the sound of a lute. Even if you break the lute into pieces, you cannot find the sound. The sound arises from many conditions—wood shaped by sun and rain, the craftsman’s skill, the musician’s years of practice. The sound is not truly “there,” yet it is not “nothing,” because it moves people to joy or sorrow. Thus the Heart Sutra says: “Form is emptiness, emptiness is form.”

When the mind is free from both “existence” and “non-existence,” it enters the true nature of non-self—beyond words, beyond concepts.

Therefore, we must maintain a constant awareness of reality: in dependent origination, everything arises and ceases together. In this interplay of conditions, the body and mind that walk, stand, sit, and lie down are actually resting in the unborn, the silent, the empty. In Zen terms, this is “seeing the nature”—sitting unmoving in Nirvana even while walking or standing, because there is no one who walks or stands.
 

The story of Dhammapada verse 348 tells of the acrobat Uggasena performing atop a tall pole. The Buddha approached, and Uggasena paused. The Buddha said:

“Let go of the past, let go of the future, let go of the present, and cross over to the other shore. With a mind completely liberated, you will no longer be born or die.”

Hearing this, Uggasena immediately attained arahantship. When we believe there is a self, it always exists within time and space. But when we see that body and mind are empty, nothing remains in the three times—past, present, and future. There is nothing left to cling to.

How do we let go of all three times? In the Bahiya Sutta, the Buddha taught: Let what is seen be simply what is seen; let what is heard be simply what is heard; let what is sensed and known be simply that. This is immediate liberation.

Zen calls this “no-mind”—the mind like a clear mirror, where images appear and vanish instantly. Sounds arise and disappear just as quickly. Seeing everything as empty is freedom from the cycle of birth and death.

How do we recognize this mind? Very simply: if I tap on the table and you hear the sound, and in that moment you are fully aware of the hearing—your mind is only that sound, nothing else. In such awareness, greed, anger, and delusion do not arise. This is mindfulness: immediate, timeless, inviting direct experience, uplifting, and understood by the wise. Practiced continuously, it leads to liberation in this very life.

We can trust that a virtuous woman with such great merit has now been reborn in heavenly realms. In Vietnamese Buddhist tradition, during the 49 days after death, the family should recite sutras, do good deeds, make offerings, release animals, give charity, and live mindfully—then dedicate the merit to the departed. These 49 days are not only for the deceased but also for the living to transform their grief.

The Buddha did not teach us to suppress sorrow. He himself felt sadness when close disciples passed away. But he taught us to look deeply into impermanence and see that birth and death are part of the flow of life.

Today, we bid farewell to a loving mother. Her physical body has returned to earth, water, fire, and wind. But her love, her teachings, and her virtue continue in her children and grandchildren.
 

In the light of the Dharma, we do not only say goodbye. We offer dedication:

May the departed spirit receive peace from these merits. May the living understand impermanence and non-self more deeply, and live each day more fully. And may all of us, in every moment and every breath, keep a peaceful and mindful heart.

My deepest condolences to the family.

Namo Shakyamuni Buddha.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



8/9/202618:51:00
Khi tôi viết như vậy dòng này, Đại hội Thánh Mẫu năm nay đã khép lại, dòng người lại hối hả tỏa ra muôn phương, trở về với cuộc sống thường nhật tại mọi nơi trên thế giới. Nhưng trong hành trang trở về của mỗi người, chắc chắn có thêm một ngọn lửa đức tin rực sáng, để tiếp tục lan tỏa, gieo mầm yêu thương từ Đức Mẹ Maria đến với tha nhân, với nhân quần xã hội.
8/7/202600:00:00
Ngày xửa ngày xưa, tại một thành phố lớn ở tây bắc Trung Quốc, có một thương gia tên là Meng. Mọi người đều ngưỡng mộ ông. Ông đã vươn lên từ một người khuân vác nghèo khó trở thành người giàu nhất vùng, nhưng tấm lòng ông không hề thay đổi. Ông giúp đỡ người nghèo, cứu giúp các góa phụ, hỗ trợ các chủ cửa hàng đang gặp khó khăn và cho đi một cách hào phóng mà không bao giờ mong đợi phần thưởng. Lòng tốt của ông nổi tiếng khắp nơi, vượt xa cả thành phố. / Long time ago, in a great city of northwest China lived a merchant named Meng. Everyone admired him. He had risen from a poor porter to the richest man in the region, but his heart never changed. He helped the poor, rescued widows, supported struggling shopkeepers, and gave generously without ever seeking reward. His kindness became famous far beyond the city.
7/31/202600:00:00
Ngày xửa ngày xưa, ở vùng đất Laṅkā, có một khu rừng rộng lớn và hoang dã. Voi lang thang giữa những tán cây, gấu tìm kiếm thức ăn, báo di chuyển lặng lẽ trong bóng tối, và nhiều loài khỉ cùng các loài thú rừng khác sinh sống ở đó. Cuộc sống trong rừng đầy rẫy nguy hiểm, và mọi sinh vật đều phải nhanh nhẹn và cảnh giác để tồn tại. / Long ago in the land of Laṅkā, there was a vast and wild forest. Elephants wandered through the trees, bears searched for food, leopards moved silently in the shadows, and many kinds of monkeys and jungle animals lived there. Life in the forest was full of danger, and every creature had to be quick and alert to survive.
7/24/202600:00:00
Ngày xửa ngày xưa ở Nhật Bản, có một người nông dân nghèo và vợ ông sống trong một ngôi làng nhỏ. Họ làm việc vất vả mỗi ngày, nhưng vẫn khó khăn trong việc nuôi sống nhiều con. Ngay khi các con đủ lớn, chúng đã giúp cha mẹ làm việc trên đồng ruộng. Chỉ có đứa con út là khác biệt. Cậu bé thông minh và hiếu kỳ, nhưng quá nhỏ bé và yếu ớt để làm những công việc nặng nhọc. / Long ago in Japan, a poor farmer and his wife lived in a small country village. They worked hard every day, but it was still difficult to feed their many children. As soon as the children were old enough, they helped their parents in the fields. Only the youngest child was different. He was bright and curious, but too small and weak to do heavy work.
7/6/202609:19:00
đói ăn, mệt ngủ, vui đạo, tùy duyên tỉnh thức, vắng lặng, hỷ lạc, an nhiên trong tâm có Phật, vô trụ vô tâm chẳng hỏi chi thiền, muôn cảnh thế gian
7/3/202600:00:00
Ngày xửa ngày xưa ở Nhật Bản, có một ông lão đốn tre sống với vợ. Họ nghèo và không có con, điều đó khiến lòng họ nặng trĩu. Mỗi ngày, ông lão đều lên đồi đốn tre kiếm chút ít kế sinh nhai. Một buổi sáng nọ, khi đang làm việc, một ánh sáng dịu nhẹ, rực rỡ đột nhiên tràn ngập khu rừng tre. Ông kinh ngạc nhìn xung quanh và thấy ánh sáng phát ra từ bên trong một thân tre. Khi bổ đôi thân tre ra, ông tìm thấy một bé gái nhỏ xíu chỉ cao khoảng 7-8 cm, tỏa sáng như ánh trăng. Vui mừng khôn xiết, ông bế cô bé về nhà, tin rằng Trời đã gửi cô bé đến làm con của họ./ Long, long ago in Japan, an old bamboo cutter lived with his wife. They were poor and had no children, which made their hearts heavy. Every day the old man went into the hills to cut bamboo and earn a small living. One morning, as he worked, a soft, glowing light suddenly filled the bamboo grove. He looked around in amazement and saw that the light came from inside one bamboo stalk. When he split it open, he found a tiny girl only
5/22/202600:00:00
Ngày xửa ngày xưa, tại một thành phố lớn ở tây bắc Trung Quốc, có một thương gia tên là Meng. Mọi người đều ngưỡng mộ ông. Ông đã vươn lên từ một người khuân vác nghèo khó trở thành người giàu nhất vùng, nhưng tấm lòng ông không hề thay đổi. Ông giúp đỡ người nghèo, cứu giúp các góa phụ, hỗ trợ các chủ cửa hàng đang gặp khó khăn và cho đi một cách hào phóng mà không bao giờ mong đợi phần thưởng. Lòng tốt của ông nổi tiếng khắp nơi, vượt xa cả thành phố./ Long time ago, in a great city of northwest China lived a merchant named Meng. Everyone admired him. He had risen from a poor porter to the richest man in the region, but his heart never changed. He helped the poor, rescued widows, supported struggling shopkeepers, and gave generously without ever seeking reward. His kindness became famous far beyond the city.
5/15/202600:00:00
Ngày xửa ngày xưa, có một con Mèo ranh mãnh nhưng xảo quyệt lang thang gần một ngôi làng. Một ngày nọ, nó phát hiện một con cá phơi khô giấu trong bao gạo. Khi nó định ăn trộm, một chuỗi tràng hạt treo gần đó tuột xuống và rơi vào cổ nó. Con Mèo không tháo nó ra. Thay vào đó, nó tự hào bước đi trên cổ. Trên đường đi, một con Gà Rừng nhìn thấy nó và lập tức bỏ chạy trong sợ hãi. Con Mèo, nhận thấy phản ứng của nó, giả vờ là người thánh thiện. Nó tự xưng là người giữ giới do Phật ban dạy, và mời con Gà đang sợ hãi đi theo mình. Tin lời nó, con Gà đi theo./ Long ago, there was a clever but deceitful Cat who wandered near a village. One day, he discovered a sun‑dried fish hidden inside a bag of rice. As he tried to steal it, a rosary hanging nearby slipped and fell around his neck. The Cat did not remove it. Instead, he proudly walked away wearing it.
5/8/202600:00:00
Ngày xửa ngày xưa, tại vương quốc đảo Ceylon (nước Tích Lan cổ xưa), có một vị vua thiếu sự hiểu biết thông thường. Trong cùng vương quốc đó, có một vị hiền triết Paṇḍitayā, một học giả nổi tiếng khắp nơi vì trí tuệ uyên bác của mình. Mọi người vô cùng ngưỡng mộ Paṇḍitayā, trong khi nhà vua lại ít được tôn trọng vì hành vi ngu ngốc của mình. Nhà vua nhận thấy sự khác biệt này và trở nên ghen tị. Sự ghen tị của ông dần biến thành mong muốn tiêu diệt người đàn ông thông thái.
4/17/202600:00:00
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.