Hôm nay,  

Người mọi da đỏ

17/11/202300:00:00(Xem: 4291)
 
hình-minh-họa
Hình minh họa: Cô gái người Mỹ gốc Phi với cung và mũi tên
 
Tôi lên 3 tuổi.

Tôi đứng trên 1 cái ghế bếp và nhìn qua cửa sổ.

Ở ngoài trời lạnh và bên trong có hơi tụ trên mặt kính, tôi phải lấy tay xoa xoa. Đứa anh họ hơn tôi một tuổi đứng cạnh tôi trên ghế nhưng chu đầu vào kiễng chân là người anh lên 9 và cô chị lên 6. Trời lúc đó về chiều và ảm đạm một màu xám nhạt. Phía bên ngoài nhà và ở lưng đồi có 2 người đi qua.

Họ một nam và một nữ, dạng bé nhỏ và đen đủi vào khoảng tuổi đôi mươi trong ngoài. Người thanh niên cởi trần và đeo gùi, cả hai đều chân đất và cô gái mặc cái áo len màu mè, rách ở nhiều chỗ. Họ không vào sân nhà mà chỉ đi ngang phía ngoài vài mươi thước. Trong ký ức của tôi sau này một thời gian dài là người thanh niên có đeo cung tên nhưng sự thật có lẽ anh chỉ có 1 cái rựa vác trên vai hay là anh không có đến con dao, tấc sắt đi rừng. Nhưng chi tiết cung tên này rất là quan trọng mặc dù nó được bịa đặt trong đầu của một thằng bé ba tuổi. Bà chị nói:

- Mọi da đỏ!

Dĩ nhiên nếu anh không đeo cung tên thì anh không thể là mọi da đỏ. Và anh là mọi da đỏ đeo cung tên thì rất đáng sợ. Chúng tôi hụp người xuống không cho họ thấy, lỡ họ bắn tên lửa đốt nhà và xông vào giết sạch mọi người.

images3069663_1
Hình minh họa

Đó là lần duy nhất tôi thấy người Thượng trong dịp nghỉ mát ở Đà Lạt. Tôi quanh quẩn không dám đi đâu xa trong những ngày sau đó cho đến khi về Sài Gòn. Hôm hai mẹ con tôi ra phi trường Liên Khàng thì có một ông chú họ lái xe đến nhà đón. Ông là sĩ quan trong quân đội và đeo một cây súng ngắn khiến tôi an tâm và hết sợ mọi da đỏ vì đã có cao bồi bảo vệ cho tôi. Tuy lên ba tuổi, tôi đã biết là cung đấu không lại súng.

Lúc đó, 1958, ở Việt nam chưa có truyền hình. Các rạp hát cấm trẻ con dưới năm tuổi, tôi còn nhớ rất rõ vì một bận người cô đưa tôi đến rạp Việt Long thì cả hai phải đi về vì tôi mới lên bốn nên không được vào. Như vậy tôi không coi TV và không coi hát, sách truyện hình, báo tranh lại rất hạn chế và bằng tiếng Pháp bán ở nhà sách Liên Châu. Nhờ đâu mà ba tuổi tôi đã biết cao bồi và mọi da đỏ, cao bồi Mỹ trắng là tốt và mọi da đỏ là xấu? Nhờ đâu một đứa bé ở mãi tận Việt nam và chưa cầm được sách đã biết phân biệt đâu chánh đâu tà? Da trắng đeo súng là tốt. Da đỏ đeo cung là xấu, và anh người Thượng ngày đó tuy anh tay không tôi cũng đã tưởng tượng ra là anh có vũ trang. Tôi chỉ mong là hôm ra phi trường, anh vác cung ra chặn đường và ông chú họ tôi lấy súng bắn anh chết tốt! Tại sao tôi lại cho chú tôi là cao bồi phe thiện và biến một người Thượng đi ngang nhà với cô em gái hay là vợ mới cưới thành kẻ ác man rợ giết người?

Tôi là một em bé Việt thăm Đà Lạt năm 1958, không phải là di dân sang châu Mỹ và đến California năm 1849 tìm vàng. Nhưng mới lên ba, bằng cách nào tôi đã ăn phải bả là Da đỏ ta đuổi đi tảy tộc, dồn nó vào các trại tạp trung trong sa mạc và diệt chủng chúng mày. Bọn này khủng bố người da trắng hiền lành và văn minh nhân ái đến khai hoang lập ấp nuôi bò trồng hoa. Họ giết cả đàn bà con nít, nhưng hèn nhát thấy kỵ binh thổi kèn tò te tí te là bỏ chạy mất hút. Tất cả những chuyện này, nó vào đầu tôi hồi nào?

Phản ứng của tôi, một đứa bé người Kinh, không phải là tò mò người dân tộc thiểu số ở nước mình để làm thân hay tìm hiểu họ mà tôi mới thấy đã sợ và từ cái sợ thì mong họ bị cao bồi giết! Tôi tự biến tôi thành một đứa bé da trắng văn minh và biến họ thành da đỏ man rợ. Cái nghèo chân đất, cái lạnh áo rách của họ tôi không thấy thương mà tôi thấy ghét. Lúc con tôi cũng vào hai ba tuổi và về Việt nam khi bị trẻ con Việt chọc, nó mắng lại là “Chúng mày bẩn thỉu! Chúng mày không đi giày!” Nhưng con tôi coi truyền hình từ lúc biết lãy và nó sanh tại Mỹ nên ảnh hưởng Mỹ là đương nhiên, đối với nó bọn trẻ con Việt nhếch nhác này có khi là Hồi giáo đánh tháp Song sinh không chừng! “Chúng mày bẩn thỉu! Chúng mày không đi giày! Chúng mày là… Saudi!” Trường hợp của con tôi còn hiểu được, nhưng còn trường hợp tôi?

Đó là bí mật của ý thức hệ cai trị.

Nhân đây, tôi thành thực xin lỗi hai người Thượng ngày hôm đó. Họ có làm gì đâu, đi ngang nhà một bọn trẻ con người Kinh, nó núp sau cửa kính chỉ chỏ và phê bình!

Đỗ Kh.

Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Trong tác phẩm Giông Tố của Vũ Trọng Phụng ấn hành năm 1936. Nhân vật chính trong tác phẩm nầy Nghị Hách, đại tư sản giàu có. “Năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh nhà, có mỏ than ở Quảng Yên, ba chục nóc nhà Tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng. Cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng” (Giông Tố). Trên đường đến làng quê thăm ruộng lúa, trong lúc chờ người sửa chữa cái xe bị hỏng, hắn nhìn thấy cô gái quê xinh đẹp tên Thị Mịch... Thèm nhỏ dãi nên làm ra chuyện “ép liễu nài hoa”!
Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện - Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)... Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xa xưa…
Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng tiếng lóng ra đời từ rất lâu, thường được lưu truyền trong dân gian. Đó là khẩu ngữ, phương ngữ trong cách giao tiếp bằng loại ngôn ngữ riêng được áp dụng trong nhóm người, địa phương và cả trong cộng đồng… Các loại tiếng lóng thường được lưu truyền thời gian trong xã hội. Xấu hay tốt còn tùy thuộc vào đối tượng sử dụng với nội dung, ý nghĩa muốn truyền đạt là gì. Trong sinh hoạt cuộc sống, mỗi nhóm vay mượn có tiếng lóng riêng giao tiếp hằng ngày…
Một anh bạn học cũ, gốc dân Quảng Ngãi (*), mới lãnh lương dạy kèm mấy giờ Anh ngữ, có nhã ý mời tôi đi ăn một món đặc sản quê anh. Ngại cho túi tiền eo hẹp của bạn, tôi từ chối thì anh nói ngay “Rẻ thôi mà!”. Cái quán xập xệ nằm ở đầu đường Bình Giả, Tân Bình. Chị chủ quán có vẻ trầm lặng, khép kín, không đon đả chuyện trò với khách, nhưng quán của chị khá gây ấn tượng là mấy chữ “Don Quảng Ngãi” được ghi dõng dạc, to nét trên tấm bảng lớn treo trước quán. Rồi hầu như để cho đồng bộ, bên trong quán lại có thêm hai cái bảng khác quảng cáo “Bia Dung Quất – Bia Quảng”. Và, rõ ràng là khiêm tốn hơn, một tấm bảng khác nữa ghi mấy chữ “Cháo gà, vịt – Tiết canh – Hủ tíu”, nét nhỏ hơn nhiều so với chữ “Don Quảng Ngãi”
Trước đây tôi đã viết bài phiếm Cao Nhơn, Nhơn Trị từ thành ngữ “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” ghi vài nhân vật ngày xưa kiến thức rộng, giỏi văn chương nên tự phụ “mục hạ vô nhân” nhưng người xưa cho rằng “Nhất sơn hoàn hữu nhất sơn cao” (Núi cao còn có núi cao hơn) để nói về con người suy ngẫm. Vì vậy chuyện “sửa lưng” nói nôm na nhẹ nhàng hơn “phản pháo, đá giò lái” giữa hai nhân vật qua lời nói hay hành động. Người xưa sửa lưng không những chỉ người có quyền thế sửa lưng người thất thế mà ngược lại…
Trong cuộc sống của chúng ta cũng thường gặp phải bao chuyện xảy ra họa (rủi ro) và phúc (may mắn). Khi có người bị họa thì lấy thành ngữ “Tái ông thất mã” nghĩa Hán Việt: Tái là “cửa ải”, Ông là “ông lão, ông già”, Tái ông là “ông già sống gần biên ải” ám chỉ khi người gặp họa trước thì may mắn được phúc sau. Thông thường thì thành ngữ nầy chí với tự bản thân để an ủi. Trong Tự Điển Hán Nôm thì phúc và phước viết giống nhau. Theo cách gọi miền Bắc là phúc, Trung và Nam là phước. Với phước, họa thì khôn lường được. Câu nói Lưu Hướng trong Thuyết Uyển “Phúc bất trùng chí, họa tất trùng lai”, phúc chỉ may mắn một lần, họa thì liên miên. Hay “Phúc vô song chí, họa bất đơn hành”.
“Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”: Khi không có người chỉ huy, kẻ xấu làm bậy. “Gà tức nhau vì tiếng gáy”: Tính ganh đua, đố kỵ, không chịu kém người khác. “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”: Cậy thế ỷ lại, bắt nạt người khác. “Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”: Khuyên bản thân có bản lãnh thì ra ngoài xã hội, anh chị em trong nhà nên đoàn kết, gắn bó với nhau cùng nghĩa tương tự như “Gà nhà lại bới bếp nhà”: Chê cùng phe cánh lại phá hoại lẫn nhau. “Gà què ăn quẩn cối xay”: Chê những người không có ý chí. “Học như gà đá vách”: Chê những người học kém. “Lép bép như gà mổ tép”: Chê người ngồi lê mách lẻo. “Lờ đờ như gà ban hôm”: Quáng gà, chê người chậm chạp, không hoạt bát
Câu nói để đời của TT Nguyễn Văn Thiệu: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”. Làm kẻ thù với Mỹ chỉ trực tiếp đối đầu còn làm bạn với Mỹ phải chấp nhận yêu sách, quyền lợi của Mỹ… nếu không sẽ bị “đá giò lái, đâm sau lưng” và có lúc bị bán đứng đất nước!
Tuổi 18 có thực sự là ngưỡng cửa của trưởng thành? Không ai lớn lên giống ai, và hành trình trưởng thành cũng chẳng thể đo đếm bằng một con số. Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với cột mốc 18 tuổi – độ tuổi mà luật pháp nhiều nơi, bao gồm Hoa Kỳ, công nhận một cá nhân chính thức bước vào tuổi trưởng thành và phải chịu trách nhiệm hình sự như người lớn. Thế nhưng, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.