Hôm nay,  

Chữ "Đức"

14/05/202408:00:00(Xem: 2788)
1688841448-Ngoi-sao-bac-anh-sinh-2237-1514268953

Tôi thực sự ngạc nhiên và thích thú trong chuyến hành hương thánh địa Bethlehem khi tôi phát hiện ra hình Mặt Trời 14 Tia (Thập Tứ Nhất Tâm là Chữ Đức của Trống Đồng Ngọc Lữ) lại đánh dấu nơi Máng Cỏ mà Đức Hài Đồng Giêsu giáng trần tại Hang Đá Bethelem cách nay hai nghìn năm.
    Thánh Địa này đã được Hoàng Đế Constantine giúp phương tiện cho mẹ ngài là Thánh Nữ Hoàng Thái Hậu Helena, xây dựng Vương Cung Thánh Đường Giáng Sinh (Church of the Nativity) vào năm 327 sau Công Nguyên, cách Thành Thánh Jerusalem khoảng 8 cây số về hướng Nam trong phần đất của người Palestine ngày nay.
    Theo truyền thuyết thì Vương Cung Thánh Đường Giáng Sinh đã đặt bàn thờ ngay trên máng cỏ, nơi Chúa Hài Đồng Giêsu sinh ra trong hang đá, và bên dưới bàn thờ hiện ra là hình Mặt Trời 14 Tia Sáng bằng bạc khảm trên một tảng cẩm thạch, biểu trưng cho chữ Đức, là đạo đức, phúc đức, nhân đức, ân đức... như như Tổ Tiên Việt Nam chúng ta đã từng viết trên mặt Trống Đồng Ngọc Lữ. Chứng cứ Mặt Trời 14 Tia Sáng cũng được ghi nhận trong quyển sách của Thánh Tử Đạo Justin (Martyr) viết vào khoảng năm 160 sau Công Nguyên.
    Cũng như trong bài Phúc Đức mà là nền tảng đạo sống của Dân Tộc Việt Nam mà tôi đã có dịp thưa chuyện, thì theo Việt Ngữ, chữ Đức có nghĩa Mặt Trời 14 Tia Sáng được đặt ở trung tâm mặt Trống Đồng Ngọc Lữ, gồm có bộ chữ “Thập + Tứ + Nhất + Tâm,” là Mười Bốn Người Một Lòng – hay 14 người đồng tâm, hoặc mang tinh thần đồng bào (đồng là cùng, bào là bọc) anh em cùng được sinh ra một lần và một lúc từ Một Bọc Trăm Con của Mẹ Cha Tiên Rồng.
   Vậy thì khi khắc Trống Đồng, dùng để làm trống canh giờ giấc, trống trận hay báo động cho dân làng tập họp... thì Tổ Tiên Việt Nam chúng ta cũng đã có dụng ý nhắc nhớ Con Cháu Tiên Rồng về tinh thần đồng bào là sống theo nguyên lý “Thân Thương & Bình Đẳng,” đồng thời học hỏi về về chủ đề Đạo Đức Làm Người.
    Nguyên lý “Thân Thương” trong truyện tích Trầu Cau & Đá Vôi, thì Tổ Tiên dạy chúng ta rằng đã sống vì Thân Thương, chết cho những người mình thương, và dẫu có chết cũng vẫn còn thương... như nhai trầu cau và đá vôi, quyện chung lại thành màu đỏ hay màu máu để diễn tả nguyên lý “Thân Thương Tột Cùng.”
   Đang khi nguyên lý Bình Đẳng cũng được ghi nhận trong truyện tích Chử Đồng & Tiên Dung, và Tổ Tiên nhận định rằng, chúng ta “Phải thấy nhau bằng con người thật, con người tinh tuyền và đừng để vật chất, lụa là, hay tiền tài danh vọng mà nhận diện, hoặc đo lường giá trị con người” như những văn hóa sai lệch mà chúng ta đang thấy hiện nay.
   Do đó, chúng ta có thể dùng Thân Thương & Bình Đẳng của Tổ Tiên mà làm hòa thuận cho cả một dân tộc đang có hàng trăm triệu người khác biệt tôn giáo, mà vẫn thực thi “Công Bình & Bác Ái của Chúa hay “Từ Bi & Hỷ Xả” của Phật vậy.
   Việc thực hành này chính là điều 7 trong Tám Mối Phúc Thật: “Ai làm cho người hòa thuận ấy là phúc thật, vì chưng mình sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy.” Tôi đã nhận thức ra từ bảy năm trong ngục tù cải tạo ở Viêt Nam sau ngày Sài Gòn thất thủ.
    Cũng theo Việt Ngữ, chữ Đức có nghĩa là hành động, hoạt động, thực hành khi con người có Đạo. Nếu Đạo là thể tĩnh của Trời Đất, của Đấng Sáng Tạo, thì Đức là thể động của Trời Đất, là hành động, là thần lực, là sức sống sức mạnh của những Người Thụ Tạo như chúng ta học hỏi Đạo để mang Đạo áp dụng vào cuộc sống nhân bản Con Người.
    Giờ đây vợ chồng chúng tôi đi hành hương Thánh Địa và quỳ xuống bái lạy rồi hôn lên Mặt Trời 14 Tia trong Đền Thánh Giáng Sinh của Chúa, cũng như xin Chúa soi sáng và cảm tạ Chúa đã dẫn dắt chúng tôi tới kính viếng nơi Thánh Địa hiển vinh này.
   Đặc biệt “Trong gian truân con đã kêu cầu, và Chúa đã đáp lời con...” như trong 7 năm tù đày cải tạo, chịu tra tấn đánh đập con nài van Chúa và Chúa đã giúp cho chúng con bình thân, mở tâm, khai trí, thông tuệ để nhận ra chữ Đức trên Trống Đồng Ngọc Lữ hay Thạp Đồng Đào Thịnh qua hình ảnh của Mặt Trời 14 Tia:
    - Thân Xác Sinh Động
    - Trí Năng Tinh Biến
    - Tâm Tình Thông Hiệp
    - Tuệ Linh Vĩnh Cửu
    Kể từ đó mà con đã có được lá cờ mà con đặt tên là “Cờ Phúc Đức” ngay khi con còn ở trong nhà tù công an (bò vàng) Xuyên Mộc, cho tới ngày nay là cờ của Trời Đất, cờ của Quốc Tổ và Hồn Thiêng Sông Núi, được trưng ra để phò trợ cho Con Cháu Tiên Rồng, tức lớp Thanh Niên Việt Nam thời đại đứng lên làm cuộc Cải Hoá Bản Thân, Cải Hoá Xã Hội và Giúp Dân Dựng Nước, theo Quan Niệm Sống Phúc Đức của Dân Tộc Việt Nam.
    Đọc trong sách Thánh Kinh Cựu Ước chúng ta cũng biết rằng: “Ngôi Sao 6 Cánh” hợp lại từ hai tam giác cân đặt đều lên nhau, thường được gọi là “Ngôi Sao David,” hay “Tấm Khiên David,” hoặc còn gọi “Dấu Triện Salomon.”
    Ngôi sao của Vua David có 6 cánh, nhưng thực ra lại tượng trưng cho số 7, gồm 6 cánh và phần lục giác bên trong tâm. Theo sự giải thích của Kinh Thánh thì 6 cánh của ngôi sao này, đại diện cho 6 ngày trong một tuần lễ, và phần lục giác bên trong thì tượng trưng cho ngày thứ 7 là ngày Sa Bát, hay là ngày Chúa Nhật.
    Cũng Theo trong Thánh Kinh Cựu Ước dạy rằng: Số 7 mang ý nghĩa đặc biệt trong đức tin Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo đã tạo dựng ra vũ trụ và con người trong tuần lễ. Thực tế, Chúa tạo dựng ra thế giới muôn vật muôn loài và con người trong 6 ngày, thì phải có một ngày thứ 7 để Ngài nghỉ ngơi.
    Mặt khác “Ngôi Sao Sáu Cánh” cũng làm liên hệ đến ấn triện của Vua Solomon, người đầu tiên xây dựng Đền Thờ Jerusalem. Vua Solomon cũng được ghi nhận là do Chúa ban tặng cho món quà “Trí Tuệ/ Khôn Ngoan” hay “Kiến Thức (Knowledge) và Thông Toàn (Wisdom) trong Thời Đại Tín Nghiệp ngày nay. Tóm lại hai Mặt Trời Vua David và Vua Solomon cộng lại cũng là số 14 Tia Sáng.
    Cũng theo Thánh Kinh dạy rằng: Ấn Triện là biểu tượng cho sự hoà hợp đất trời, hoặc bốn phương tám hướng đông tây nam bắc. Bởi thế những ý tưởng này cũng như tấm khiên ngôi sao David trở thành một biểu tượng phong ấn và bảo vệ Đức Tin.
    Từ thế kỷ 17 Ngôi Sao David trở thành con dấu chính thức của nhiều cộng đồng người Do Thái, mặc dù nó không được ghi rõ trong Kinh Thánh hay Sách Talmud. Nhưng hiện nay, từ thế kỷ 19, Ngôi Sao David được người Do Thái chấp nhận và phổ biến toàn diện, làm thành một biểu tượng của Do Thái giáo, tương tự như biểu tượng Thập Tự Giá của Công Giáo.
    Quốc Kỳ Do Thái được công bố vào năm 1948, ở trung tâm cờ đặt biểu tượng Tấm Khiên của Vua David kết hợp với Dấu Triện của Vua Solomon, gọi là Ngôi Sao David có 6 cánh tia, xuất hiện cách nay hơn bốn ngàn năm (National Flag consisting of a central Shield of David (Hebrew: "Magen David," which is also popularly known as the Star of King David).
    Cũng trong chuyến hành hương thánh địa, tôi gặp và tâm tình với người thanh niên Israel trên chuyến du thuyền qua bờ Biển Hồ Galilee, anh cho tôi biết niềm tự tin và tự hào dân tộc của anh được thể hiện qua Kinh Thánh và Quốc Kỳ với Ngôi Sao David.
    Anh hỏi tôi về tình hình chính trị Việt Nam, thì tôi cũng mạnh dạn thưa rằng: "Tôi cũng như anh, tôi cũng có niềm tự tin và tự hào dân tộc Việt Nam qua Chính Thuyết Tiên Rồng, được gọi là Kinh Việt và đoàn kỳ Đạo Đức Việt Nam gọi là Cờ Phúc Đức, với Mặt Trời Đỏ toả 14 Tia Sáng được Tổ Tiên ghi khắc ở trung tâm của Trống Đồng Ngọc Lữ và Thạp Đồng Đào Thịnh.

 

– Phạm Văn Bản

 

Hai chữ Mây Tần hẳn là tâm sự của nhà văn Linh Bảo, theo sách vở ghi lại, bà phải sống cuộc đời xa quê hương. Bà vừa ra đi về miền miên viễn ở tuổi thọ 98, nhớ thương, tưởng niệm và cầu mong Linh Bảo siêu thăng tịnh độ quốc, tìm lại được mây Tần « nhựt mộ hương quan hà xứ thị ». Nhắc đến hương quan hà xứ thị ? Nhất là nhắc lại Mây Tần, ta không khỏi nhớ đến đại thi hào Nguyễn Du, vì sao? Thưa, có lẽ vì tư tưởng của ông hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc, với mọi người, trong tất cả mọi hoàn cảnh. Cái triết lý nhân bản của cụ Nguyễn Du đã được rất nhiều tác giả danh tiếng trình bầy. Tất cả, họ đều viết hay ở mọi khía cạnh, mọi chi tiết. Và truyện Kiều thì chúng ta bàn mãi cũng không chán và không hết, nên lúc này, CT xin mạn phép nhắc lại, có thể kể thêm vài chi tiết qua sự hoàn chỉnh luận án về triết lý nhân bản Kiều của tác giả linh mục Vũ Đình Trác.
Sách là kho tàng tri thức của nhân loại, giá trị sách có lẽ không cần phải dài dòng tán tụng làm gì. Sách đã đồng hành với con người từ thuở xa xưa đến giờ. Lịch sử với bao nhiêu thăng trầm đổi thay, sách cũng thế, có những thời kỳ phát triển rực rỡ nhưng cũng có những giai đoạn vô cùng thê thảm, bị cấm đoán, bị thiêu hủy...
Tình yêu thì ở nơi đâu cũng có, mùa nào cũng có, hoàn cảnh nào cũng có, nhất là trong trại tỵ nạn khi mà nỗi buồn niềm vui mong manh luôn luôn hiện hữu. Nhưng đừng nghĩ rằng ở trại tạm dung, lộn xộn, thì được tự do thoải mái hẹn hò yêu đương, mà còn có những trường hợp bị cấm đoán, ngăn cản. Không cách núi ngăn sông mà lòng phải nhớ nhung, gặp nhau lén lút, bí mật như câu hát của Trịnh nhạc sĩ: vội vàng thay những lúc yêu người...
Có bao giờ bạn cảm giác điện thoại di động của mình đang nghe lén và điều chỉnh quảng cáo dựa trên những gì bạn nói chưa? Bạn không phải là người duy nhất. Tin này đã lan truyền trong nhiều năm qua - nhưng cho đến nay, vẫn chưa có ai có thể chứng minh điều này là có thật. Vậy việc điện thoại di động "lắng nghe" chúng ta liệu có phải là sự thật? Ý muốn nghe nội dung những cuộc đàm thoại của bạn khi bạn ở gần điện thoại để điều chỉnh quảng cáo thì hẳn đã tồn tại từ lâu.
Chị Thái mở cửa và reo lên khi thấy tôi: – Ủa Bông, lâu lắm mới gặp, đến mà không báo cho mình biết gì cả. – Sẵn dịp đến thành phố này, biết Thái đã nghỉ hưu nên thường là có mặt ở nhà, mình muốn cho bạn sự bất ngờ.. Chúng tôi ở cách nhau hơn 1 giờ xe, ai cũng bận rộn riêng nên ít khi gặp nhau. Tôi ngạc nhiên nhìn cảnh bừa bộn quanh phòng khách, tưởng là mình đang…nằm mơ, chị bạn của tôi luôn là người thanh lịch, nhà cửa vén khéo nay đã khác rồi. Thái hiểu ý tôi, nàng giải thích:
Trời mưa, mưa lai rai suốt một tuần lễ và cả những ngày tháng trước đó nữa, năm nay mưa nhiều. Có lúc nắng chợt đến sưởi ấm khô đất, nắng sưởi ấm vạn vật và làm khô ráo rất mau...
Biển là nơi chất chứa nhiều kỷ niệm của nhân loại, trong đó có tôi. Biển cũng là một nghĩa địa mênh mông chôn cất hàng tỷ sinh mạng, trong đó, chưa có tôi. Nói một cách mộng mơ hơn, biển là niềm vui và nỗi buồn, là vui sướng và khổ nạn. Nhưng khó mà biết được, biển vô cùng độc ác, dù ngoài mặt xanh trong, tung tăng những đợt sóng trắng. Trông hiền lành, thậm chí dễ thương, như nhiều người xung quanh. Có bao nhiêu lần chúng ta ngạc nhiên hoặc đau lòng vì sự tráo trở của những người quen biết hiền lành? Họ là một loại biển sâu, thăm thẳm, một loại nghĩa địa nước.
Hai phụ nữ bị thưa ra Tòa án Paris về tội xúc phạm sĩ diện và đời sống riêng tư vì hai người này quả quyết bà vợ của ông Tổng thống Macron là người chuyển giới và bà vì thế không phải là mẹ của các con của bà. Hai phụ nữ loan tin thất thiệt đó sẽ ra Tòa vào ngày 16 tháng 6 tới đây. Một bà là đồng bóng, bà kia là nhà báo độc lập. Đồng thời, nhiều Twitter và hashtag #JeanMichelTrogneux đồng loạt quả quyết Đệ nhứt phu nhơn thật sự là một phụ nữ chuyển giới, tên khai sanh là Jean-Michel Trogneux.
Ảo thì không phải là sự thật, không có thật. Những từ ngữ mà chúng ta thường nghe có liên quan xa gần đến việc sống ảo là ảo ảnh, ảo giác, ảo tưởng, ảo vọng, vân. vân...Ảo thuật nhằm đánh lừa giác quan chớ không phải là thật. Đó chỉ là một trò giải trí để mua vui chớ không có hại như ảo giác, ảo tưởng, ảo vọng của những người sống ảo, xa rời thực tế. Sống ảo là một căn bệnh tâm lý gây ra bởi nhiều lý do phức tạp khác nhau, tùy trường hợp của mỗi cá nhân. Có thể là do kém hiểu biết cùng với mê tín, mê muội, có thể do một tại nạn hay một biến cố xảy ra để lại một vết thương trong tâm hồn, có thể do một chấn động vì người thân đột ngột qua đời, có thể do sự thất bại ngoài xã hội, và trong gia đình, có thể vì ảo tưởng theo đuồi một mục tiêu không thật và cuối cùng chạm phải một thực tế phủ phàng.
Ngày nhỏ chúng tôi căng miệng hát một cách thích thú bài nhạc chế từ bài La Marseillaise, bài quốc ca của Pháp. Tôi thuộc cho tới bây giờ, sau nhiều chục năm tôi vẫn còn hát được. “Thầy đồ ngày xưa quen thói nuôi móng tay dài / quần trễ tai hồng đỏ đen mực son. Đầu lúc la lúc lắc đảo như lên đồng / được dăm trẻ ghẻ lở quá hủi phong. / Quát lấy điếu, đem bình phóng , bưng cơi trầu. / Nhân chi sơ, người đi trước / ta bảo phải để vào tai dốt đặc. Ở trên đầu thầy có cái chi lúc lắc? Búi tó, nó to bằng niêu / tính ghét móng tay hằng cân / thọc luôn trong nách, bật tanh tách hoài / Ngâm thơ thích chí rung đùi”. Nhớ nhưng không chắc có đúng không, có thể có chỗ không nhớ tôi đã chế ra. Nhạc chế cũng như ca dao không bao giờ có tên tác giả. Không biết đây là một bài nhạc chế để chọc quê chính quốc lúc đó đang cai trị Việt Nam hay đùa chơi với các thầy đồ của một anh học trò không thích tới trường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.