Hôm nay,  

50 N ĂM S A U

06/04/202519:30:00(Xem: 3790)
Andy Warhole
Andy Warhole

 

 

30 THÁNG TƯ 

 

 

bỏ đi hòn đá cuội 

bỏ đi một dúm đất

bỏ đi một màu cờ

bỏ đi bỏ đi

mà bỏ đi đâu 

mà bỏ đi sao đành

 

bỏ đi một tâm thần

bỏ đi một bại xuội

bỏ đi một cụt què

bê bết một càn quét 

lại bỏ đi bỏ đi 

 

không về nơi đã bỏ 

không bỏ một thề nguyền 

thì chết như đã sống

bỏ đi một sinh tồn 

 

 

CÙNG TRANG LỨA

 

 

Hết chiến tranh

Chúng ta già hơn hòa bình 

À. thì diễn biến nào

Cũng tới hồi lạnh tanh

 

Nhìn xem vỉ bắp nướng

Mẹ quạt đời mỏi tay

Những ngọn đèn thất sắc

Vẫn rọi xuống cầu đường 

Chiếc vòi rồng mắc cạn 

 

Chúng ta nghe động đất

Nhưng chưa biết động lòng

Những của ăn thừa mứa

Chưa bằng một cọng lông

 

Hòa bình hết lợi lộc

Thì khai mào chiến tranh

Chiếc mồng gà đỏ chóe

Chúng mình

Em và anh

 

 

 

THUA ĐƯỢC 

 

 

Bên nào cũng thắng

Ta thua

Thụt lùi bá thở

Chạy đua phát cuồng 

 

 

THÁNG TƯ, HỒI THỨ. . .

 

 

Tôi khai tử à         [? ]

Ồ không

 

Tôi vẫn sống tận giờ này

Răng và tóc

Óc.                                  và mắt

 

Tháng tư nào

Tôi không

[Nhớ]

 

Tôi Việt Nam

 

 

 *

THANH NIÊN



Khóc tới vực đời
Rỏ xuống đen thẳm
Lịm dần cơ ngơi
Sáo hồn đã ngậm

Vi vu cành lan
Gió tràm muối đá
Phơ phất bên đàng
Niên thanh tàn tạ

Dây đã quấn leo
Quận về chi chít
Đi riết một lèo
Thân thồ tối mịt

Em cứ bịt mắt
Thấy. không thấy gì
Kẻ gian bịt mặt
Địa hình lụy bi

Đường cong của chữ
Gánh nặng hai đầu
Khúc gầy củi lẻ
Trắng ởn khô lâu

Con đường hủy diệt
Trứng nước bóp chết
Loăng quăng ngoài rừng
Suối nguồn cạn kiệt

Hãy khóc đi em
Giọt mắt cò lả
Núi đồi bóc tem
Đất mình biển lạ


)(
h o à n g x u â n s ơ n
27.2.24
dự phóng tháng 4

 

 

 

Nhân dịp 30/4 sắp đến, là một trong số 140,000 người Việt tị nạn đầu tiên đến Mỹ trong năm 1975, tôi xin ghi lại những dữ kiện và câu chuyện của một người Việt tị nạn...
Cha tôi tên là Pranay. Chị tôi tên là Ahana. Tôi tên là Vihaan. Nghe chị tôi kể lại mẹ tôi chết khi tôi được sinh ra chưa tròn một năm. Chết vì bị dê húc ngã xuống vùng sình-lấy hồ Kỳ-Hòa, lúc mẹ tôi chăn giữ mấy con dê sữa...
Theo ghi nhận của Phạm Huấn, tại cuộc họp lịch sử ở Cam Ranh ngày 14-3-1975, hồi 13 giờ 03 phút, lệnh triệt thoái Cao Nguyên được coi như chính thức ban hành. Sau đó, Tướng Thiệu hỏi Tướng Viên liệu có thể dùng Quốc Lộ 19, hay 21 để rút quân? Tướng Viên trả lời không thể dùng đường 21 nối Ban Mê Thuột với Nha Trang vì đường 14 từ Kontum-Pleiku tới Ban Mê Thuột đã bị địch cắt, và có ba bốn Sư Đoàn Cộng Sản Bắc Việt tại chiến trường Ban Mê Thuột, không thể đi thoát qua ngả đó. Cũng khó thành công nếu dùng Quốc Lộ 19; nối Pleiku với Quy Nhơn; vì địch quân đóng chốt nhiều nơi.
Khi nhìn lại nửa thế kỷ Phật giáo Việt Nam hiện diện trên miền đất hứa, Hoa Kỳ, ta thấy con đường chánh niệm tỉnh thức không khởi nguồn từ một dự tính định sẵn, mà từ sự kết tinh của hoàn cảnh, của tâm nguyện và của những bước chân tìm về cõi an trú giữa bao biến động. Bởi nó như một dòng suối len lỏi qua những biến động của thời cuộc, chảy về một phương trời xa lạ, rồi hòa vào biển lớn. Từ những hạt giống gieo xuống trong lặng lẽ, rồi một ngày trổ hoa giữa lòng những đô thị phương Tây, nơi mà có lúc tưởng chừng như chỉ dành cho lý trí và khoa học, cho tốc độ và tiêu thụ, cho những bộ óc không còn kiên nhẫn với những điều mơ hồ. Nhưng rồi, giữa cái đa đoan của thế giới ấy, những lời dạy về chánh niệm, về thở và cười, về sự trở về với chính mình đã nảy mầm và lan rộng như một cơn mưa đầu hạ, làm dịu đi những khô cằn của tâm hồn.
Sớm đó, cha xé tờ lịch nào biết nghe nó khóc, mất một ngày nhỏ mọn rồi mất luôn những to tát mai sau, để tiếp tục héo đau mất ngủ. Sớm đó, cha xé tờ lịch cũ, xé luôn thịt xương, đứt máu mủ yêu thương, mẹ từ đó ủ rủ, cha từ đó trong tù treo cổ những niềm vui.
Kể từ ngày biến cố lịch sử 30/4/75, 50 năm trôi qua, đã có không biết bao nhiêu sách vở nói về cái ngày bi thương đó của dân tộc Việt Nam, nhưng có lẽ không gì trung thực và sống động cho bằng chính những bản tường trình trên báo chí vào đúng thời điểm đó từ những phóng viên chiến trường tận mắt chứng kiến thảm cảnh chưa từng có bao giờ của hàng trăm ngàn người, dân cũng như quân, liều mình xông vào cõi chết để tìm cái sống. Năm 2025, đánh dấu 50 năm biến động lịch sử đó, Việt Báo hân hạnh được đăng tải loạt bài viết của ký giả Đinh Từ Thức ghi lại chi tiết từng ngày, đôi khi từng giờ, những điều xảy ra trong mấy tuần lễ trước và sau ngày 30/4/75 để chúng ta có cơ hội cùng sống lại những giờ khắc bi thảm và kinh hoàng ấy đã xảy ra như thế nào.
Hiện tại, các chư Tăng Ni đều là thành viên của các Giáo Hội Hải Ngoại, nhất tâm đảnh lễ quý ngài, thương tưởng và gìn vàng giữ ngọc của truyền thống, kỷ cương của mỗi Giáo Hội mình, để không lạc hướng và mất đi những giá trị cốt lõi sau 50 năm nhìn lại chặng đường đầy cam go thử thách này.
Ngày tàn xuân thuở xưa ấy, cách nay đã 50 năm. Một cuộc đổi mới dẫn đến loạn lạc xã hội, ly tán gia đình. Máu tiếp tục đổ sau chiến tranh. Lệ nóng trào tuôn, hòa thêm vị mặn trên đại dương thống khổ. Hàng trăm nghìn gia đình bị đẩy lên những vùng ma thiêng nước độc để canh tác mưu sinh lập đời mới.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.