Hôm nay,  

Về Miền Nam

03/09/201300:00:00(Xem: 8806)
Đời người ngắn ngủi, xa xứ 35 năm, chưa một lần về thăm lại quê hương, là một khoản thời gian khá dài cho một người như Cỏ May. Thuở nhỏ, sống với cha mẹ ở nhà quê, giữa đồng ruộng, hằng ngày chăn vịt, giử trâu, cứ tưởng như vậy là yên phận một đời người ở miền đồng chua, nước mặn cách Sài gòn không quá hai mươi km về hướng Tây. Vận nước biến đổi đã đưa đẩy nhiều nông dân phải rời bỏ ruộng nương lên Sài gòn lánh nạn. Nạn Việt Minh ban đêm, nạn Tây bố ban ngày. Sau 75, dân chúng bình thường, gốc gác Sài gòn hay từ đồng quê tới trước đây, ai có điều kiện, đều lần lượt bỏ nước ra đi lánh nạn. Lần này, chỉ lánh có một thứ nạn, nạn ngày và nạn đêm, đó là nạn cộng sản đến làm giải phóng quê hương.

Vì không về được thăm viếng lại quê hương với đồng ruộng ngày xưa mà Cỏ May, từ nhiều năm nay, cứ độ Hè về, trời nắng ấm, thường tìm cơ hôi đi về Miền nam. Không phải Miền nam Việt nam, mà là Miền nam xứ Pháp. Nơi đây có những cánh đồng ruộng lúa ngập nước không khác đồng lúa miền quê Gia định, Long An, Mỹ Tho. Trước Thế chiến II, những người Việt nam bị cưỡng bách qua Pháp làm lao động không lương cho Nhà nước Bảo hộ đã đem cách canh tác, với giống lúa ở Việt nam, áp dụng trên những cánh đồng ngập nước vùng Camargue và đã biến những cánh đồng này từ đó trở thành một vùng đồng lúa bát ngát. Mỗi năm thu hoạch đem lại cho nước Pháp gần trăm tấn gạo phụ thêm lương thực cho nước Pháp những năm khó khăn vì chiến tranh. Lúa cấy ở đồng Camargue ngày nay được Viện nông nghiệp pháp cải tiến, tạo thêm nhiều giống lúa khác nhau. Nông dân mở rộng thêm diện tích canh tác. Trên thị trường pháp, gạo Camargue xuất hiện khá nhiều. Trong siêu thị, gạo Camargue bày bán trong những bao 1kg, với nhiều thứ khác nhau, gạo đen, gạo đỏ, gạo trắng, hột tròn, hột dài, trắng có, lứt có. Giá cả cũng ngang ngửa với các loại gạo quen thuộc khác.

Tại thành phố Arles hãy còn một nhà máy xay lúa kiểu xưa ở Việt nam nhưng ngày nay chỉ được bảo quản như một di tích lịch sử.

Những người làm ruộng đầu tiên ở đây là một số trong 20 000 người "lính thợ" bị bắt đưa qua Pháp vào cuối năm 1929 và đầu năm 1930. Thật ra, họ không phải là lính vì không được huấn luyện để đánh giặc, mà chỉ làm công không chuyên môn trong các xưởng kỹ nghệ phục vụ chiến tranh. Tên gọi chánh thức là ONS (Ouvriers Non Spécialisés) = Thợ không chuyên môn.

Họ bị bỏ quên nhưng những ai về Mìền nam nên biết ở Miền nam nắng ấm này, hiện nay, còn hơn mươi người sanh sống với tuổi đời ngoài chín mươi.

Hà nội vẫn bên bờ sông Lot

Tháng Tám Tết Hà nội là cách nói để đề cặp tới Lễ Hội hằng năm tổ chức vào giữa tháng Tám tại "Trung tâm tiếp quản Những người Pháp Đông dương" (CAFI = Centre d'Accueil des Français d'Indochine). Trại này tọa lạc bên cạnh nhánh sông Lot, bên ngoài thành phố Sainte Livrade sur Lot thuộc Tỉnh Lot-et-Garonne. Nhưng người dân ở Trung tâm và dân địa phương vẫn quen gọi là Trại (Camp) như Trại lính, Trại tù. Dân thành phố Sainte-Livrade có người còn xa lạ, tuy đã hơn nửa thế kỷ qua, nên vẫn gọi đó là "Trại Ba tàu" để trả lời người hỏi thăm đường đi tới đó.

Dân trong Trung tâm, nói là "Tây đông dương" (Français d'Indochine) nhưng kỳ thật họ đều là người Việt nam hà nội thuần túy hoặc lai, cha hay mẹ là người Pháp đi lính hoặc làm việc trong chánh quyền pháp thời thực dân.

Năm 1956, trong lúc cả triệu người rời bỏ quê hương, chen nhau xuống tàu há mồm vào Nam tỵ nạn cộng sản, thì có 1600 người phần lớn phụ nữ với bầy con dại, được chánh quyền pháp cho xuống tàu chở tới bến Marseille rồi đưa thẳng về Trại Sainte-Livrade cho ở đó. Có gọi nơi này là trại thì cũng đúng thôi vì đó là trại lính bỏ trống từ sau thế chiến II. Những dãy nhà xây cất với vật liệu đơn sơ, thiếu mọi tiện nghi tối thiểu cần thiết cho đời sống. Nước và nhà vệ sinh ở bên ngoài. Thoát nước bằng hệ thống cống lộ thiên. Trợ cấp không đủ. Đi làm việc thì không có việc làm, ngoài làm công trong vài nhà máy, hoặc làm rẩy, hái hoa màu theo mùa,... với đồng lương chết đói. Đời sống trong trại không khác như lúc còn ở Miền Bắc đang chiến tranh. Đi ra vào bị kiểm soát chặt chẻ đề phòng bạo loạn và phá hoại. Ban Quản lý trại là những quân nhơn được đào tạo về an ninh nên họ nặng tinh thần đề cao cảnh giác. Trưóc mắt họ mọi người đều có thể là kẻ địch nguy hiểm. Qui chế áp dụng cho trại không khác nhà binh. Đôi lúc còn áp dụng "thiết quân lực" (couve-feu). Cho tới năm 1961, trong trại mới tổ chức lớp học cho trẻ con đi học, từ vở lòng tới Tiểu học năm 14 tuổi. Sau đó, trẻ con được cưỡng bách chuyển nghề. Thường phải học những nghề không phù hợp năng khiều và không đượcc học phổ thông lên trung học.

Những biện pháp khắc khe vô lý này chỉ nhằm làm cho mọi người không muốn ở lại đây, phải sớm tìm đường đi nơi khác sanh sống. Nhưng phần lớn không dám đi vì không biết chữ, không biết nghề, với đàn con dại.

Từ năm 1961 cho tới năm 2005, chánh phủ pháp tuần tự có đưa ra 4 Nghị định nhìn nhận những "người Pháp Đông dương" là những công dân của Nhà nước Pháp từ lúc còn ở tại Việt nam nay có quyền được Nhà nước giúp đở theo tinh thần tiền văn của bản Hiến pháp năm 1946... Nhưng từ đó cho tới nay, những người này, thế hệ thứ I, Thứ II và thứ III, vẫn chưa được trợ cấp như những người Pháp hồi hương từ Algérie sau năm 1962. Có gì "phân biệt" trong chánh sách đồi xử của các Chánh phủ ở Paris?

Qua những năm dài sống chung ở trại, một nếp sống cộng đồng bắt nguồn từ những truyền thống văn hóa Việt nam thành hình và lớn mạnh tại Trại Sainte-Livrade. Bà con trồng rau cải Việt nam như rau thơm, rau muống, ớt, hành ngò,...Có vật liệu, gia vị, Bà con làm những món ăn dân tộc cho gia đình, mời bà con láng giềng. Tiếp theo, một cửa hàng mở cửa ngay tại phòng khách của căn nhà bày bán các thứ thực phẩm tươi và bánh trái, xôi, bắp, khoai luộc,... Rau quả do bà con địa phương cung cấp. Cửa hàng còn bán thêm vài món vào cuối tuần như búng riu, búng thang, phở,...Nhu cầu sanh hoạt tinh thần không thể thiếu vắng. Ban Quản trị trại cung cấp hai đơn vị gia cư cho cư dân trại lập nhà thờ và chùa. Sanh hoạt tôn giáo hoạt động. Hai nơi này, ngày nay vẫn còn và được giử gìn cẩn thận.

Bà con ở đây, không có ai muốn trở về Hà nội trong những ngày cuối đời mà muốn yên nghỉ ở đây vì ở đây là Hà nội, là quê hương thật sự của họ. Bà con đã gói ghém mang theo trọn vẹn lúc ra đi. Chỉ bỏ lại ở bên kia bờ đại dương vùng đất hoang dại mà thôi.

Lễ Tết Hà nội tháng Tám

Năm nay, từ hôm 14 tới 17 tháng 8 / 2013, Lễ Hội Tết thường niên của "Làng Việt nam Sainte-Livrade được" Hội Cư dân và Bạn của CAFI "(ARAC = Association des Résidents et Amis de CAFI) tổ chức thật long trọng. Sau nhiều ngày Ban Tổ chức phải làm việc cất lực, Lễ Hội diển ra với nhiều tiết mục hấp dẩn, qui tụ cả ngàn người, vừa bà con cư dân và gia đình, vừa dân chúng địa phương, tham dự suốt cuộc lễ.

Với bà con, đây quả thật là lễ Tết tuy không tổ chức được vào những ngày đầu năm. Chỉ Tết trong ý nghĩa. Ở Pháp, tháng 8, người đi làm việc, trẻ con đi học, đều đưọc nghỉ hè. Lễ Hội tổ chức vào dịp này dễ qui tụ đông người và thời tiết cũng thích hợp. Đây là dịp bà con đi làm xa tụ về nghỉ ngơi với ông bà cha mẹ. Cũng nhơn dịp này, những người của thế hệ thứ II, thứ III gặp nhau, quen biết nhau, kết tình thân người làng kẻ nước với nhau. Họ sống lại tình cảm họ hàng xa gần, thể hiện nét văn hóa xã thôn Việt nam.

Ông Patrick Fernand, Chủ tịch Hội ARAC, nhắc lại Lễ Hội Tết bắt đầu mở rộng trong 3 ngày liên tiếp từ năm 2006, năm kỷ niệm 50 năm những người Pháp Đông dương tới và định cư ở Sainte-Livrade. Lễ Hội đón tiếp mọi người. Ở đây, mọi người đều cảm thấy vui vẻ, nói chuyện với nhau, cười giởn với nhau. Năm nay, còn là dịp để mọi người nhìn thấy Trại CAFI đổi mới, với những dãy nhà kiến trúc mới, đầy đủ tiện nghi. Tuy nhiên, chánh quyền vẫn đáp ứng nguyện vọng của bà con cư dân giử lại trong nguyên trạng 6 căn nhà để dùng làm chứng tích của thời "hồi hương" năm 1956 do chánh phủ Pháp tổ chức. Đồng thời, một vài căn sẽ dùng làm Bảo tàng viện lưu trử tài liệu về cuộc "hồi hương" này, với đầy đủ ý nghĩa của nó, đau khổ, nước mắt, nhục nhả...của lớp phụ huynh trong 1600 người về với nhà nước bảo hộ ở đây. Tường vôi, ngói đỏ là màu sắc của những dãy nhà mới gợi nhớ lại ở những người lớn tuổi, năm nay còn lại lối 20 người trên dưới 90 tuổi, những ngôi nhà thuộc địa ngày xưa ở Hà nội mà sau đó, nhà nước cộng sản trưng dụng cho nhơn viên đảng và chánh phủ ở. Ông Võ Nguyên Giáp hiện đang chờ thở hơi cuối cùng cũng tại một trong những căn nhà này.

Những khu nhà mới và đường phố ở đây mang tên Việt nam để nhắc lại quê hương làm ấm lòng chút nào cho những người rời bỏ vỉnh viển sinh quán. Như Tonkin, Delta,...

Gian hàng ăn là cả thế giới mùi vị để mọi người thưởng thức suốt 3 ngày Lễ Hội. Vừa xem múa lân, pháo bông, diển kịch, võ thuật, nghe ca nhạc và khiêu vũ,...

Cả ngàn người đang vui chơi Lễ Hội, bổng vào lúc gần nửa đêm ngày khai mạc, có 4 người, chắc là dân thành phố Sainte-Livrade nhưng không phải dân trong Trại CAFI, xuất hiện, say rượu, với gậy gộc, với cả chai rượu cầm theo. Một người trong nhóm xin một người tham dự lễ, lối sáu mươi tuổi, một điếu thuốc. Người này từ chối. Thế là cuộc ấu đả xảy ra gây thương tích cho 6 người. Riêng người từ chối thuốc bị thương nặng phải đưa đi qua Bordeaux cứu cấp. Báo tin, san-đầm tới can thiệp ngay.

Ban tổ chức tuyên bố năm tới sẽ đặc biệt quan tâm tới vấn đề an ninh hơn vi chuyện này mới xảy ra lần đầu từ khi có Lễ Hội này.

Ba Tàu tới Sainte-Livrade

Cuộc vui bị phá rối bởi một người say rượu và ít nhiều bệnh tâm thần không quan trọng bằng "Ba Tàu" âm thầm xâm nhập vùng này bằng cách ẩn mình trong kiện hàng hóa do một nông dân vùng này đặt mua những cái ấm trà bằng gốm. Đúng vậy. Nhóm Ba Tàu, trước tiên tới vùng Lot-et-Garonne, sau đó rải mỏng tới gần khắp Âu châu và tiến lên tận miền Bắc Âu nữa. Dân chúng trong giới nông nghiệp lo sợ cuốn cuồn vì thứ này không có loại vũ khí gì có thể tiêu diệt được. Chỉ chờ thiên tai mà thôi. Tức chờ Ông Trời động lòng ngó xuống và ra tay mà thôi.

Đúng là "Khi anh Ba Tàu, ngồi dậy dụi mắt, nhẳm xà là thiên hạ bắt đầu chao đảo".

Ba Tàu tới vùng Lot không phải là những anh Ba Tàu thiệt, mà là những con Ong Bầu đi lậu từ xứ Tàu theo đường hàng hải tới đây không giấy tờ gì cả.

Những con vật này không thuộc giống vật ở Âu châu. Có người nói chúng chích 3 phát vào một ông Tây to lớn, người đầy rượu đi nữa, chỉ vài phút sau là ngã lăn ra tắt thở. Nhưng giới khoa học thì bảo phải cã trăm mủi mới gây tử vong cho người được.

Loại Ong Bầu này rất mê tìm ong mật tấn công. Nhiều nhà nuôi ong ở vùng này bị mất tới 70% bày ong của mình. Có không ít người đã phải di dời tới những vùng khác lánh nạn.

Thuốc sâu rầy không làm gì được với loài ong Ba Tàu ác ôn gốc Quảng đông này.

Báo chi Pháp trong gần đây loan tin và phân tích để tìm hiểu "Với cách nào Ba Tàu xâm nhập vào nước Pháp hiện nay". Ba Tàu mua những ngôi nhà lớn ở khắp nơi, từ Paris tới các tỉnh thành lớn, với giá từ 4 triệu euros trở lên. Họ liên tục đầu tư vào nhiều ngành nghề, nhứt là nghề trồng nho và làm rượu. Khi gặp khó khăn trong bước tiến, người Ba Tàu bèn dở cẩm nang đối ngoại ra đọc "Chỉ khi nào túi áo của người ta trút xuông đất thì ta mới hết đường tiến thủ".

Đảng cộng sản Hà nội học rất kỷ nguyên lý này và đang áp dụng ngày càng thành công trên khắp đất nước Việt nam.

Nguyễn thị Cỏ May

Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), đức Phật đã nói đến sự quý giá của sự sống khi sinh được làm người qua thí dụ con rùa mù ở đáy biển. Đức Phật kể rằng có một con rùa mù ở dưới đáy biển cứ mỗi một trăm năm mới nổi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một khúc gỗ rỗng ruột đang trôi nổi khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc, theo chiều gió thổi và dòng thủy triều. Vậy mà cơ hội để con rùa mù tìm được và chui vào khúc gỗ rỗng ruột kia lại dễ hơn cơ hội để chúng ta sinh ra được làm người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng trong các loài hữu tình như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, phi thiên và chư thiên thì loài người có được lợi thế để đoạn tận khổ đau và đạt đến giải thoát mà các loài kia không có. Đức Phật giải thích sở dĩ như vậy là vì loài người không quá khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không quá khoái lạc như các vị trời để khó lòng nghĩ tới chuyện tu tập mà giác ngộ và giải thoát.
Tài tử Richard Chamberlain, người đóng vai Đức Cha Ralph de Bricassart trong tác phẩm điện ảnh The Thorn Birds năm 1983, công khai mình là người đồng tính ở tuổi 69, trong cuốn hồi ký Shattered Love, xuất bản năm 2003. Khi đó, ông đã giã từ màn ảnh. Nghĩa là không có gì khiến ông phải lo sợ là hình ảnh Cha Ralph đáng kính và vô cùng tội nghiệp giữa ranh giới giữa tình yêu dành cho nàng Meggie và Chúa Jesus, sẽ bị hủy hoại trong lòng khán giả.
Và khi chính những người Cộng hòa lên tiếng phản đối, JD Vance, phó tổng thống Hoa Kỳ, bảo họ hãy im lặng. Phát biểu tại Ohio hôm thứ Tư, Vance nói ông thấy “ghê sợ” nhưng không phải vì quảng cáo, mà vì những người Cộng Hòa than phiền về nó nhiều hơn Dân Chủ. Ông ta thẳng thừng khuyên các đồng đảng “hãy thôi than vãn về một mẩu quảng cáo và hãy chiến thắng cuộc đua trong 13 ngày tới.” Khi được hỏi quảng cáo có phù hợp không, ông nói điều đó không thật sự là mối bận tâm của mình.
TNgụ ngôn Sói Và Cừu Non của Jean de La Fontaine kể chuyện một con sói đứng đầu dòng suối, thấy con cừu non đang uống nước phía dưới, liền nổi giận buộc tội cừu làm đục nước. Cừu lễ phép thưa rằng mình đứng phía hạ lưu, nước chảy từ chỗ sói xuống, làm sao có thể khiến nước phía trên đục được? Sói liền đổi tội: Năm ngoái mày đã nói xấu tao. Cừu đáp: Năm ngoái con còn chưa ra đời. Sói bảo: Vậy thì anh mày. Cừu thưa: Con không có anh. Sói kết luận: Vậy thì một đứa nào đó trong nhà mày. Nói xong, sói tha cừu non vào rừng ăn thịt. La Fontaine đặt ở đầu truyện một câu nổi tiếng: « La raison du plus fort est toujours la meilleure. » Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng là lý lẽ thắng thế.
Chính Tổng Thống Donald Trump đã lên tiếng cảnh cáo các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện rằng ông sẽ bị luận tội lần nữa nếu Đảng Cộng Hòa mất quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 6 tháng 1 năm 2026, trong một bài phát biểu kín tại hội nghị thảo luận chính sách của các dân biểu Cộng Hòa ở Kennedy Center, Trump nói với các nhà lập pháp rằng "Các bạn phải thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, bởi vì nếu chúng ta không thắng, thì... ý tôi là, họ sẽ tìm ra lý do để luận tội tôi. Tôi sẽ bị luận tội." Mới đây, tháng 10 năm 2026, Trump đã nhiều lần lập lại những cảnh báo và nhận định tương tự về khả năng bị luận tội lần thứ ba tại các cuộc mít tinh vận động tranh cử sau đó, khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 đang đến gần. Trong trạng thái quá tuyệt vọng, Trump đã quay xe 180 độ, khuyến khích cử tri bầu qua thư hay bầu vắng mặt, vì ông sợ nhiều cử tri Cộng Hòa sẽ không tham dự bầu cử.
Cuộc bầu cử giữa kỳ đã đến gần, và các cuộc thăm dò toàn quốc cho thấy Đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn Đảng Cộng hòa về ý định bầu cử. Nếu xu hướng này tiếp diễn, Đảng Dân chủ có thể giành lại đa số ở Hạ viện, Thượng viện, hoặc cả hai viện. Tuy nhiên, số phận của Quốc hội không được quyết định bởi toàn thể cử tri, mà phần lớn tùy thuộc vào một số ít cuộc tranh cử gay go ở Hạ viện và Thượng viện. Theo Cook Political Report, hiện chỉ có 22 cuộc đua Hạ viện và 7 cuộc đua Thượng viện được xem là “ngựa ngang ngửa”, nghĩa là cả ứng viên Dân chủ lẫn Cộng hòa đều còn cơ hội thắng cử.
Đấu tố là hành quyết công khai không nhằm vào người bị tòa kết án. Nó nhằm vào đám đông. Nó dạy đám đông sợ hãi, vì ai cũng thấy mình có thể là người quỳ kế tiếp. Và nó biến đám đông thành đồng lõa: đứng xem, hô khẩu hiệu, thì cũng đã có phần trong đó.
Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.
Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy. Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.
Trong một thế giới vẫn còn chìm trong tiếng súng của các cuộc chiến ở Ukraine, Gaza, Iran và nhiều nơi khác, Giải Nobel Hòa bình năm 2026 mang một ý nghĩa vượt xa khuôn khổ của một danh hiệu quốc tế. Bên cạnh ý nghĩa tôn vinh những cá nhân hay tổ chức đã góp sức cho hòa bình, cũng là lời nhắc nhở rằng sinh mạng người, nhân phẩm, lòng từ bi và sự thật vẫn có giá trị ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất của nhân loại. Khi chiến tranh thường ca ngợi sức mạnh của vũ khí, Nobel Hòa bình hướng sự chú ý của thế giới đến sức mạnh của lòng từ bi: những bác sĩ cứu chữa bệnh nhân giữa bom đạn, các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người dám lên tiếng cho công lý và những cộng đồng không từ bỏ hy vọng. Giải thưởng có ý nghĩa rằng hòa bình không chỉ là sự chấm dứt chiến tranh, mà còn là sự bảo vệ sự sống, phẩm giá và quyền được tồn tại của mọi con người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.