Hôm nay,  

Về Miền Nam

03/09/201300:00:00(Xem: 8815)
Đời người ngắn ngủi, xa xứ 35 năm, chưa một lần về thăm lại quê hương, là một khoản thời gian khá dài cho một người như Cỏ May. Thuở nhỏ, sống với cha mẹ ở nhà quê, giữa đồng ruộng, hằng ngày chăn vịt, giử trâu, cứ tưởng như vậy là yên phận một đời người ở miền đồng chua, nước mặn cách Sài gòn không quá hai mươi km về hướng Tây. Vận nước biến đổi đã đưa đẩy nhiều nông dân phải rời bỏ ruộng nương lên Sài gòn lánh nạn. Nạn Việt Minh ban đêm, nạn Tây bố ban ngày. Sau 75, dân chúng bình thường, gốc gác Sài gòn hay từ đồng quê tới trước đây, ai có điều kiện, đều lần lượt bỏ nước ra đi lánh nạn. Lần này, chỉ lánh có một thứ nạn, nạn ngày và nạn đêm, đó là nạn cộng sản đến làm giải phóng quê hương.

Vì không về được thăm viếng lại quê hương với đồng ruộng ngày xưa mà Cỏ May, từ nhiều năm nay, cứ độ Hè về, trời nắng ấm, thường tìm cơ hôi đi về Miền nam. Không phải Miền nam Việt nam, mà là Miền nam xứ Pháp. Nơi đây có những cánh đồng ruộng lúa ngập nước không khác đồng lúa miền quê Gia định, Long An, Mỹ Tho. Trước Thế chiến II, những người Việt nam bị cưỡng bách qua Pháp làm lao động không lương cho Nhà nước Bảo hộ đã đem cách canh tác, với giống lúa ở Việt nam, áp dụng trên những cánh đồng ngập nước vùng Camargue và đã biến những cánh đồng này từ đó trở thành một vùng đồng lúa bát ngát. Mỗi năm thu hoạch đem lại cho nước Pháp gần trăm tấn gạo phụ thêm lương thực cho nước Pháp những năm khó khăn vì chiến tranh. Lúa cấy ở đồng Camargue ngày nay được Viện nông nghiệp pháp cải tiến, tạo thêm nhiều giống lúa khác nhau. Nông dân mở rộng thêm diện tích canh tác. Trên thị trường pháp, gạo Camargue xuất hiện khá nhiều. Trong siêu thị, gạo Camargue bày bán trong những bao 1kg, với nhiều thứ khác nhau, gạo đen, gạo đỏ, gạo trắng, hột tròn, hột dài, trắng có, lứt có. Giá cả cũng ngang ngửa với các loại gạo quen thuộc khác.

Tại thành phố Arles hãy còn một nhà máy xay lúa kiểu xưa ở Việt nam nhưng ngày nay chỉ được bảo quản như một di tích lịch sử.

Những người làm ruộng đầu tiên ở đây là một số trong 20 000 người "lính thợ" bị bắt đưa qua Pháp vào cuối năm 1929 và đầu năm 1930. Thật ra, họ không phải là lính vì không được huấn luyện để đánh giặc, mà chỉ làm công không chuyên môn trong các xưởng kỹ nghệ phục vụ chiến tranh. Tên gọi chánh thức là ONS (Ouvriers Non Spécialisés) = Thợ không chuyên môn.

Họ bị bỏ quên nhưng những ai về Mìền nam nên biết ở Miền nam nắng ấm này, hiện nay, còn hơn mươi người sanh sống với tuổi đời ngoài chín mươi.

Hà nội vẫn bên bờ sông Lot

Tháng Tám Tết Hà nội là cách nói để đề cặp tới Lễ Hội hằng năm tổ chức vào giữa tháng Tám tại "Trung tâm tiếp quản Những người Pháp Đông dương" (CAFI = Centre d'Accueil des Français d'Indochine). Trại này tọa lạc bên cạnh nhánh sông Lot, bên ngoài thành phố Sainte Livrade sur Lot thuộc Tỉnh Lot-et-Garonne. Nhưng người dân ở Trung tâm và dân địa phương vẫn quen gọi là Trại (Camp) như Trại lính, Trại tù. Dân thành phố Sainte-Livrade có người còn xa lạ, tuy đã hơn nửa thế kỷ qua, nên vẫn gọi đó là "Trại Ba tàu" để trả lời người hỏi thăm đường đi tới đó.

Dân trong Trung tâm, nói là "Tây đông dương" (Français d'Indochine) nhưng kỳ thật họ đều là người Việt nam hà nội thuần túy hoặc lai, cha hay mẹ là người Pháp đi lính hoặc làm việc trong chánh quyền pháp thời thực dân.

Năm 1956, trong lúc cả triệu người rời bỏ quê hương, chen nhau xuống tàu há mồm vào Nam tỵ nạn cộng sản, thì có 1600 người phần lớn phụ nữ với bầy con dại, được chánh quyền pháp cho xuống tàu chở tới bến Marseille rồi đưa thẳng về Trại Sainte-Livrade cho ở đó. Có gọi nơi này là trại thì cũng đúng thôi vì đó là trại lính bỏ trống từ sau thế chiến II. Những dãy nhà xây cất với vật liệu đơn sơ, thiếu mọi tiện nghi tối thiểu cần thiết cho đời sống. Nước và nhà vệ sinh ở bên ngoài. Thoát nước bằng hệ thống cống lộ thiên. Trợ cấp không đủ. Đi làm việc thì không có việc làm, ngoài làm công trong vài nhà máy, hoặc làm rẩy, hái hoa màu theo mùa,... với đồng lương chết đói. Đời sống trong trại không khác như lúc còn ở Miền Bắc đang chiến tranh. Đi ra vào bị kiểm soát chặt chẻ đề phòng bạo loạn và phá hoại. Ban Quản lý trại là những quân nhơn được đào tạo về an ninh nên họ nặng tinh thần đề cao cảnh giác. Trưóc mắt họ mọi người đều có thể là kẻ địch nguy hiểm. Qui chế áp dụng cho trại không khác nhà binh. Đôi lúc còn áp dụng "thiết quân lực" (couve-feu). Cho tới năm 1961, trong trại mới tổ chức lớp học cho trẻ con đi học, từ vở lòng tới Tiểu học năm 14 tuổi. Sau đó, trẻ con được cưỡng bách chuyển nghề. Thường phải học những nghề không phù hợp năng khiều và không đượcc học phổ thông lên trung học.

Những biện pháp khắc khe vô lý này chỉ nhằm làm cho mọi người không muốn ở lại đây, phải sớm tìm đường đi nơi khác sanh sống. Nhưng phần lớn không dám đi vì không biết chữ, không biết nghề, với đàn con dại.

Từ năm 1961 cho tới năm 2005, chánh phủ pháp tuần tự có đưa ra 4 Nghị định nhìn nhận những "người Pháp Đông dương" là những công dân của Nhà nước Pháp từ lúc còn ở tại Việt nam nay có quyền được Nhà nước giúp đở theo tinh thần tiền văn của bản Hiến pháp năm 1946... Nhưng từ đó cho tới nay, những người này, thế hệ thứ I, Thứ II và thứ III, vẫn chưa được trợ cấp như những người Pháp hồi hương từ Algérie sau năm 1962. Có gì "phân biệt" trong chánh sách đồi xử của các Chánh phủ ở Paris?

Qua những năm dài sống chung ở trại, một nếp sống cộng đồng bắt nguồn từ những truyền thống văn hóa Việt nam thành hình và lớn mạnh tại Trại Sainte-Livrade. Bà con trồng rau cải Việt nam như rau thơm, rau muống, ớt, hành ngò,...Có vật liệu, gia vị, Bà con làm những món ăn dân tộc cho gia đình, mời bà con láng giềng. Tiếp theo, một cửa hàng mở cửa ngay tại phòng khách của căn nhà bày bán các thứ thực phẩm tươi và bánh trái, xôi, bắp, khoai luộc,... Rau quả do bà con địa phương cung cấp. Cửa hàng còn bán thêm vài món vào cuối tuần như búng riu, búng thang, phở,...Nhu cầu sanh hoạt tinh thần không thể thiếu vắng. Ban Quản trị trại cung cấp hai đơn vị gia cư cho cư dân trại lập nhà thờ và chùa. Sanh hoạt tôn giáo hoạt động. Hai nơi này, ngày nay vẫn còn và được giử gìn cẩn thận.

Bà con ở đây, không có ai muốn trở về Hà nội trong những ngày cuối đời mà muốn yên nghỉ ở đây vì ở đây là Hà nội, là quê hương thật sự của họ. Bà con đã gói ghém mang theo trọn vẹn lúc ra đi. Chỉ bỏ lại ở bên kia bờ đại dương vùng đất hoang dại mà thôi.

Lễ Tết Hà nội tháng Tám

Năm nay, từ hôm 14 tới 17 tháng 8 / 2013, Lễ Hội Tết thường niên của "Làng Việt nam Sainte-Livrade được" Hội Cư dân và Bạn của CAFI "(ARAC = Association des Résidents et Amis de CAFI) tổ chức thật long trọng. Sau nhiều ngày Ban Tổ chức phải làm việc cất lực, Lễ Hội diển ra với nhiều tiết mục hấp dẩn, qui tụ cả ngàn người, vừa bà con cư dân và gia đình, vừa dân chúng địa phương, tham dự suốt cuộc lễ.

Với bà con, đây quả thật là lễ Tết tuy không tổ chức được vào những ngày đầu năm. Chỉ Tết trong ý nghĩa. Ở Pháp, tháng 8, người đi làm việc, trẻ con đi học, đều đưọc nghỉ hè. Lễ Hội tổ chức vào dịp này dễ qui tụ đông người và thời tiết cũng thích hợp. Đây là dịp bà con đi làm xa tụ về nghỉ ngơi với ông bà cha mẹ. Cũng nhơn dịp này, những người của thế hệ thứ II, thứ III gặp nhau, quen biết nhau, kết tình thân người làng kẻ nước với nhau. Họ sống lại tình cảm họ hàng xa gần, thể hiện nét văn hóa xã thôn Việt nam.

Ông Patrick Fernand, Chủ tịch Hội ARAC, nhắc lại Lễ Hội Tết bắt đầu mở rộng trong 3 ngày liên tiếp từ năm 2006, năm kỷ niệm 50 năm những người Pháp Đông dương tới và định cư ở Sainte-Livrade. Lễ Hội đón tiếp mọi người. Ở đây, mọi người đều cảm thấy vui vẻ, nói chuyện với nhau, cười giởn với nhau. Năm nay, còn là dịp để mọi người nhìn thấy Trại CAFI đổi mới, với những dãy nhà kiến trúc mới, đầy đủ tiện nghi. Tuy nhiên, chánh quyền vẫn đáp ứng nguyện vọng của bà con cư dân giử lại trong nguyên trạng 6 căn nhà để dùng làm chứng tích của thời "hồi hương" năm 1956 do chánh phủ Pháp tổ chức. Đồng thời, một vài căn sẽ dùng làm Bảo tàng viện lưu trử tài liệu về cuộc "hồi hương" này, với đầy đủ ý nghĩa của nó, đau khổ, nước mắt, nhục nhả...của lớp phụ huynh trong 1600 người về với nhà nước bảo hộ ở đây. Tường vôi, ngói đỏ là màu sắc của những dãy nhà mới gợi nhớ lại ở những người lớn tuổi, năm nay còn lại lối 20 người trên dưới 90 tuổi, những ngôi nhà thuộc địa ngày xưa ở Hà nội mà sau đó, nhà nước cộng sản trưng dụng cho nhơn viên đảng và chánh phủ ở. Ông Võ Nguyên Giáp hiện đang chờ thở hơi cuối cùng cũng tại một trong những căn nhà này.

Những khu nhà mới và đường phố ở đây mang tên Việt nam để nhắc lại quê hương làm ấm lòng chút nào cho những người rời bỏ vỉnh viển sinh quán. Như Tonkin, Delta,...

Gian hàng ăn là cả thế giới mùi vị để mọi người thưởng thức suốt 3 ngày Lễ Hội. Vừa xem múa lân, pháo bông, diển kịch, võ thuật, nghe ca nhạc và khiêu vũ,...

Cả ngàn người đang vui chơi Lễ Hội, bổng vào lúc gần nửa đêm ngày khai mạc, có 4 người, chắc là dân thành phố Sainte-Livrade nhưng không phải dân trong Trại CAFI, xuất hiện, say rượu, với gậy gộc, với cả chai rượu cầm theo. Một người trong nhóm xin một người tham dự lễ, lối sáu mươi tuổi, một điếu thuốc. Người này từ chối. Thế là cuộc ấu đả xảy ra gây thương tích cho 6 người. Riêng người từ chối thuốc bị thương nặng phải đưa đi qua Bordeaux cứu cấp. Báo tin, san-đầm tới can thiệp ngay.

Ban tổ chức tuyên bố năm tới sẽ đặc biệt quan tâm tới vấn đề an ninh hơn vi chuyện này mới xảy ra lần đầu từ khi có Lễ Hội này.

Ba Tàu tới Sainte-Livrade

Cuộc vui bị phá rối bởi một người say rượu và ít nhiều bệnh tâm thần không quan trọng bằng "Ba Tàu" âm thầm xâm nhập vùng này bằng cách ẩn mình trong kiện hàng hóa do một nông dân vùng này đặt mua những cái ấm trà bằng gốm. Đúng vậy. Nhóm Ba Tàu, trước tiên tới vùng Lot-et-Garonne, sau đó rải mỏng tới gần khắp Âu châu và tiến lên tận miền Bắc Âu nữa. Dân chúng trong giới nông nghiệp lo sợ cuốn cuồn vì thứ này không có loại vũ khí gì có thể tiêu diệt được. Chỉ chờ thiên tai mà thôi. Tức chờ Ông Trời động lòng ngó xuống và ra tay mà thôi.

Đúng là "Khi anh Ba Tàu, ngồi dậy dụi mắt, nhẳm xà là thiên hạ bắt đầu chao đảo".

Ba Tàu tới vùng Lot không phải là những anh Ba Tàu thiệt, mà là những con Ong Bầu đi lậu từ xứ Tàu theo đường hàng hải tới đây không giấy tờ gì cả.

Những con vật này không thuộc giống vật ở Âu châu. Có người nói chúng chích 3 phát vào một ông Tây to lớn, người đầy rượu đi nữa, chỉ vài phút sau là ngã lăn ra tắt thở. Nhưng giới khoa học thì bảo phải cã trăm mủi mới gây tử vong cho người được.

Loại Ong Bầu này rất mê tìm ong mật tấn công. Nhiều nhà nuôi ong ở vùng này bị mất tới 70% bày ong của mình. Có không ít người đã phải di dời tới những vùng khác lánh nạn.

Thuốc sâu rầy không làm gì được với loài ong Ba Tàu ác ôn gốc Quảng đông này.

Báo chi Pháp trong gần đây loan tin và phân tích để tìm hiểu "Với cách nào Ba Tàu xâm nhập vào nước Pháp hiện nay". Ba Tàu mua những ngôi nhà lớn ở khắp nơi, từ Paris tới các tỉnh thành lớn, với giá từ 4 triệu euros trở lên. Họ liên tục đầu tư vào nhiều ngành nghề, nhứt là nghề trồng nho và làm rượu. Khi gặp khó khăn trong bước tiến, người Ba Tàu bèn dở cẩm nang đối ngoại ra đọc "Chỉ khi nào túi áo của người ta trút xuông đất thì ta mới hết đường tiến thủ".

Đảng cộng sản Hà nội học rất kỷ nguyên lý này và đang áp dụng ngày càng thành công trên khắp đất nước Việt nam.

Nguyễn thị Cỏ May

Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.