Hôm nay,  

Qua Cửa Tử

01/05/202009:03:00(Xem: 4479)

 


  Ánh nắng chói chang như thiêu đốt nhức cả mắt, cháy cả da thịt, da dẻ ai cũng sạm đen thô ráp, đầu bù tóc rối, môi nút nẻ tứa máu, có vệt đã khô, có vệt mới còn tươi. Mọi người nằm rũ rượi như những tàu lá chuối bị hơ lửa, áo quần nhàu nát, dơ dáy, xốc xếch trông như những hình nhân. Thỉnh thoảng có tiếng rên:

 - Nước, cho tui chút nước. 

 Không có tiếng trả lời, người hỏi cũng thừa biết là không còn một giọt nào trên tàu cả, nhưng vì bản năng sống nên thốt lên trong vô thức. Con bé Tư mười sáu tuổi mà quắt queo khô đét như con mắn mòi, hai mắt trắng dã, tay chân lèo khèo, chiếc quần ngắn cũn cỡn nửa ống quyển, cái áo bà ba nhăm nheo trông nó như mới lên mười. Nó nằm bẹp dí trong hầm, miệng thều thào:

 - Má, con khát quá! 

 Chị Thắm, mẹ con bé cõi lòng tan nát, đau đớn muốn khóc mà lệ dường như khô theo cơn khát, người khô hết lấy đâu ra nước mà chảy nước mắt

 - Ráng chút nữa nha con, tới đảo mình tha hồ uống.

 Con tàu chết máy trôi giạt đã mấy ngày nay, chẳng ai còn lòng dạ nào mà đếm thời gian nữa. Con tàu bị lạc vào dòng nghịch lưu, cộng với gió cứ thế đẩy đưa càng lúc càng xa về hướng nam. Trên thì bầu trời thăm thẳm, dưới biển xanh đến độ thẫm đen, tưởng chừng như thấu tận địa ngục. Khi con thuyền vừa chạm phao số không, tài công la to:

 - Đến hải phận quốc tế rồi bà con ơi!

 Mọi người trên tàu mừng rỡ reo to:

 - Thoát rồi, thoát thật rồi! 

 Mới có mấy ngày mà giờ laị đối diện với địa ngục, cái chết vì đói, khát, tàu chìm đang cận kề gang tấc. Có người hối tiếc vì đã chọn ra đi:” Giá mà biết như vậy, thà ở laị chịu khổ cực nhưng không đến nỗi chết”. Trên tàu không còn một vụn bánh mì, một giọt nước nào. Có người khát quá, liều uống nước biển nhưng vừa hớp một ngụm là vội nhả ra ngay. Ông Hải quỳ mọp ở mạn tàu cầu khẩn:

 - Bồ Tát linh hiển, xin cứu chúng con qua cơn khổ nạn này, vào tới đảo con nguyện ăn chay hết tháng bảy âm lịch.

 Lời khấn nguyện khô khốc, âm thanh đứt quãng bị gió biển thổi át đi. Ngồi trên một đaị dương nước mà không có một giọt nước để uống, trong người còn thủ mấy chục cây vàng mà không có một chút đồ ăn để ăn, càng cám cảnh, càng nghĩ thì càng khốn quẫn. Ông Hải ôm đầu ngồi bệt trên sàn tàu, bây giờ có tiền cũng vô dụng, hồi nào trên bờ ông từng cao giọng:” Có tiền mua tiên cũng được, tiền là chià khoá mở mọi cánh cữa, tiền quyết định tất cả…”Ấy vậy mà giờ, trên con tàu này, tiền không khác chi mảnh giấy lộn, không ăn được, không uống được, chẳng có ích chi cả. Ông Hải thấm thía câu:” Diêm vương không ăn hối lộ, nhân quả chẳng nệ thân sơ, vô thường không chê quý tiện”. Vốn là một tay tài phiệt có tiếng của thành đô, tài sản của ông có khắp nơi, những hãng sản xuất ở Sài Gòn, Biên Hoà; những đồn điền cao su, thông ở Bình Long, Đà Lạt bạt ngàn; những tài khoản khổng lồ trong các nhà băng…và hàng chục ngàn công nhân ngày đêm làm việc không ngừng nghỉ. Ấy thế mà ông Hải rất chi li, đồng lương rẻ mạt mà còn luôn tìm cách thêm giờ, thêm việc, bớt phúc lợi. Ông đi đêm với các nghiệp đoàn và cảnh sát để khống chế các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của công nhân. Có khi căng quá thì ông cũng chịu nhả thêm tí chút, nhưng thói cằn bòn nó laị khiến ông tìm cách để lấy laị bằng những mánh khoé khác, ông có vô số mánh khoé để làm cho hầu bao của mình càng ngày càng phình to. Mỗi khi xã hội có hoạn nạn, thiên tai… cần cứu tế, ông cũng bỏ ra một số tiền, không bỏ ra thì không được vì sĩ diện nhưng ông lận vào đó quảng cáo cho tên tuổi hãng xưởng của ông. Người ta kháo nhau:” Lời chán, xem ra vừa cứu tế mà còn quảng cáo với giá rẻ”. Ông Hải thường nói với bọn đàn em:

 - Tiền liền khúc ruột, kiếm khó lắm nên không thể dùng vào những việc phước đức mơ hồ. Ta chỉ tin tiền đẻ ra tiền!

 Ông Hải là triệu phú của thành đô, xem ra cũng có nhiều phước báo, giữa lúc quốc gia loạn lạc chiến chinh mà công việc của ông vẫn xuôi chèo mát mái, cuộc chiến càng khốc liệt thì việc làm ăn laị càng lên như diều gặp gió. Thế rồi đùng một cái, cuộc chiến tàn, một nửa vui mừng và một nửa hoang mang sợ hãi lạc, chịu nhiều đau thương nghiệt ngã. Cuộc chiến tàn nhưng mở ra một cuộc chiến âm thầm khác, lòng người ly tán, xã hội nhiễu nhương đi vào suy sụp. Ông Hải cùng bao người khác tự nhiên sau một đêm ngủ dậy thì trắng tay, sản nghiệp bị tịch thu, nhà cửa, của cải bị lấy chia cho kẻ khác. Đau đớn tưởng chừng như có thể phát điên, bạn ông nhiều kẻ nhảy lầu. Ông Hải âm thầm chứ không dám hé lộ cùng ai, thời buổi tai vách mạch dừng, nói ra là mang vạ như chơi. Nếu ngày còn chủ cũ, hễ ai động đến một tí là ông mượn truyền thông la to:”Vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do cá nhân, tự do ngôn luận…” giờ thì im thin thít, những ngày tháng có miệng mà không dám nói, có tai mà như điếc, có mắt mà như đui. Người người lao mình ra biển tìm đường sống. Ông Hải móc nối được với một đường dây vượt biên, kẻ cò mồi biết ông giàu có nên hét giá: “ năm mươi lượng cho cả nhà”. Vốn có tài mặc cả, sau khi kì kèo hai bên chốt giá ba mươi lượng, giao trước mười lượng, phần còn laị sẽ giao sau khi lên tàu. Nửa đêm cả nhà theo người dẫn đường đi ra một bãi vắng Cần Giờ, nhìn con tàu cũ kỹ và nhỏ bé, ông đã ngần ngừ nhưng gã tài công hối thúc:

 - Lên lẹ đi, chậm chút là bị hốt hết bây giờ! 

Ông Hải và cả nhà lên tàu, bụng bảo dạ:” Ở cũng chết, đi cũng chết, thôi thì lao vào cửa tử tìm đường sống”. Xưa nay ông vẫn tự hào mình là người không ngoan, quyết định sáng suốt, thế mà giờ đành nhắm mắt đưa chân. Con tàu tắt đèn rù rì rẽ sóng trong màn đêm đen kịt. Mọi người dường như nín thở, lòng đầy lo lắng mãi cho đến khi gã tài công reo to tới phao số không thì mọi người mới thở phào, trút cả gánh lo âu. Nỗi mừng chưa được bao lâu thì ngày hôm sau một nỗi sợ hãi khác bao trùm con tàu. Con tàu cứ xành xạch tắt máy mấy bận. Gã tài công và tay thợ máy cởi trần hì hục sửa, sửa mãi hkông xong bèn chửi tục:

 - Đ… mẹ, con heo dầu laị trở chứng!

 Nhiều tiếng phàn nàn:

 - Sao không lo sửa trước khi khởi hành?

 Gã tài côngbực mình nạt:

 - Đ…mẹ, mấy người có ngon thì lái tàu đi! tui hổng lái nữa, ai chết biết liền.

 Chú Hai, người lớn tuổi nhất trên tàu ôn tồn:

 - Đừng nóng chú em, tiền vàng mọi người đóng sòng phẳng rồi, giờ chung một con tàu, sống chết có nhau. Bà con cũng đừng nói nữa, để chú ấy sửa máy. 

 Mọi người im lặng, họ biết số phận mình giờ nằm trong tay gã tài công nên không dám hó hé gì thêm.  Tiếng máy tàu laị xình xịch nổ, con tàu chạy được vài mươi hải lý nữa thì chết máy hẳn, tròng trành giữa sóng nước đaị dương. Cả con tàu râm ran rời khấn nguyện, cầu khẩn. Lòng ông Hải ngổn ngang bao nỗi sợ sệt suy tính, nếu ngày trước, mỗi khi đứng trước biển thì lòng khoan khoái dễ chịu, bao nhiêu bực dọc của cuộc sống thành đô đều tiêu tan. Ấy vậy mà giờ giữa biển khơi thì sợ đến sốt vó, nhìn bốn phía toàn là nước và nước, đường chân trời xa tít tắp, chẳng biết đâu là bến bờ. Ngày trước đi học, sách vở thường ví con tàu ra giữa đaị dương thì như chiếc lá tre, lá trúc, giờ thì thấy không đúng, thật sự tàu giữa đaị dương chỉ như sợi lông măng. Ông Hải laị thấy những người trên tàu không khác gì hoàn cảnh của những con chuột đồng khi mùa nước nổi, bập bềnh trên khúc gỗ, cành cây. Con tàu chết máy cứ trồi lên hụp xuống giữa những lượn sóng. Ông Hải ói sạch cả ruột gan, không gì để ói mà vẫn cứ ói, bụng đau quặn thắt, một tí dịch cũng không còn nhưng cơn buồn ói nó cứ ụa lên. Đói mờ cả mắt, nằm bẹp ở sát mạn tàu, ông Hải thấy thấp thoáng thần chết cận kề, bao nhiêu ký ức trỗi dậy, lòng ăn năn hối hận vô cùng. Một thời giàu sang nhất xứ, đã từng ky cóp để có một gia tài kết xù, đã đối xử bần tiện với người làm công… để rồi mất sạch cả trong một buổi sớm thay ngôi đổi chủ của sơn hà. Ông thầm nghĩ:” Giá mà hồi đó ta san sẻ bớt cho người làm công, kẻ nghèo khổ bần cùng, giúp đỡ tha nhân…thì khi mất hết gia sản cũng còn chút dư phước, đằng này mất cả mà phước báo cũng không , thật đúng là dã tràng xe cát. Ngày trước khi ra đi thì lòng đinh ninh sống chết gì cũng phải đi, giờ nhìn vợ con đói, khát nằm vật vã trên tàu thì lòng thống hối laị càng lớn. Ông Hải ân hận mình đi từ cái sai này đến cái sai khác. Trước khi tàu chết máy, gã tài công cố hướng mũi về Mã Lai nhưng giờ dòng nghịch lưu đẩy nó quay về hướng đông nam. Nước chảy, gió thổi con tàu càng ngày càng xa, hết nắng gay gắt ban ngày lại cái lạnh thấu xương đêm đen. Chẳng còn ai biết đã bao nhiêu ngày trôi qua, con tàu cứ thế trôi, may mà chưa gặp bão hay cướp biển. Thỉnh thoảng thấy xa xa có tàu hàng, mọi người vùng dậy gõ nồi,song, vẫy áo quần hay bất cứ thứ gì vớ được, dồn hơi la hét… nhưng tất cả loãng trong hư không, tàu hàng laị mất hút ở chân trời. Trời vừa hừng đông, chị Liễu ở cuối con tàu, giọng khan đặc la hớt hải: 

 - Con bé Tư chết tự hồi nào, xác cứng đơ đây nè! 

 Nhiều tiếng than tội nghiệp, con nhỏ mới mười mấy tuổi đầu, chưa đủ lớn đã chết khát oan ức trên con tàu này. Đằng kia laị lao xao, có người la lên:

 - Chú Hai chết rồi, xác lạnh ngắt, có lẽ chết tối qua!

 Nhiều tiếng niệm Phật, đọc kinh rì rầm. Có người làm dấu thánh giá, miệng cũng lầm bầm đọc kinh thánh. Mấy anh thanh niên trẻ, khiêng hai cái xác vô hồn thả vào lòng biển cả. Ngày hôm sau laị có ba người nữa bỏ mạng, biển laị nhận thêm cư dân mới. Trên tàu như một bãi tha ma, sự im lặng bao trùm không gian, chỉ còn tiếng óc ách của nước vỗ mạn tàu, con tàu hệt như một nấm mồ nổi giữa sóng nước trùng dương. Ngày kế laị có bốn người chết, rồi ngày tiếp theo có ba người chết, người trên tàu khiêng xác những kẻ xấu số lặng lẽ thả vào lòng biển, không ai còn nước mắt để khóc, những cái xác vô hồn từ từ chìm vào lòng biển xanh thẫm như màu mực. Những người còn laị cũng kiệt sức lắm rồi, chẳng còn biết mình có thể sống được bao lâu nữa, hy vọng được cứu cạn dần. Không biết ai đó thì thào:” Hay là chúng ta mượn tạm thịt xác chết để sống sót?” đa số phản đối, cho man rợ nhưng cũng có một số người im lặng

 Giấc xế chiều, khi ánh nắng bớt gay gắt,  đường chân trời tím thẫm. Gã tài công cùng hai đứa đàn em thân tín thất thểu len lỏi dọc mé tàu, laị chui xuống hầm tàu thì thấy một bà già ngồi khóc khô bên xác con Lành. Ngày con Lành lên tàu, gã tài công đã tăm tia:

 - Con nhỏ tướng tá ngon lành, bá cháy thiệt! 

  Mà quả thật, con Lành trắng da dài tóc, trông mướt rượt. Những gã đàn ông trên tàu đều nhìn chằm chặp, có kẻ buông lời cợt nhã, ấy vậy mà giờ là cái xác xám ngoét không hồn. Gã tài công và hai tên đàn em ráng khiêng xác con Lành đi, bà già níu laị. Gã bèn nói:

 - Dì ơi dì, cô Lành chết rồi, để tụi con đem cô ấy táng vào biển.

 Bà già khô héo quắt queo buông tay ra, thằng đàn em tên Tùng càm ràm:

 - Bà già vậy là lì đòn hơn, con nhỏ trông múp rụp mà laị yếu xìu, chết trước.

 Khiêng lên sàn tàu thì thả xuống nghỉ hơi, đói quá, run tay, kiệt sức…Nghỉ một chặp laị khiêng đến sát mạn tàu để thả xuống biển, khi cái xác được nâng lên vượt mạn, gã tài công đẩy nửa xác con lành ngoài tàu thì thằng Thụ, đàn em của gã tài công rị xác con Lành làm cho rơi laị sàn tàu. Gã tài công bực mình:

 - Đ…mẹ, mầy làm cái quái gì vậy? 

 Thằng Thụ lí nhí:

 - Dù gì thì con Lành cũng chết rồi, tụi mình cần phải sống! 

 Gã tài công thắc mắc

 - Ý mầy sao? Tao hổng hiểu.

 Thằng Thụ không trả lời, nó sụp lạy cái xác con lành ba lạy, vừa lạy vừa van vái:

 - Cô lành sống khôn chết thiêng, xin phù hộ cho tui, xin tha thứ cho tui, đừng bắt tui. Dù gì cô cũng chết rồi, tui đói quá, tui hổng muốn chết, cho tui mượn cô một tí để sống sót. 

 Vái xong nó rút con dao găm thủ sẵn trong túi quần ra và xẻo một miếng thịt đùi trên xác con Lành. Nó đưa lên miệng nhưng vừa cắn thì lập tức gan ruột nó quặn lên, nó ói từ mật xanh tới mật vàng, dù rằng chỉ còn chút xíu xiu nhờn nhợt trên sàn tàu. Gã tài công và thằng Tùng thấy thế há hốc miệng kinh ngạc và cũng lập tức ói theo, cũng như thằng Thụ, cả hai cũng chẳng có gì để ói, chỉ là chút nước tanh tanh. Bà già lần mò bò từ hầm tàu lên, trông thấy tất cả, bà hét lên nhưng không thành tiếng và ngã ra ngất xỉu. Ông Hải nằm gần đấy chứng kiến cảnh tượng từ đầu đến cuối, rùng mình sởn ốc nhưng sức yếu quá vả laị cũng chẳng biết làm gì hơn. Màn đêm từ từ phủ chụp xuống, bóng tối từ đáy biển trồi lên quấn lấy con tàu- nấm mồ nổi vào lòng đêm của nó, cái màu đen đặc quánh đến nghẹt thở, cả con tàu dường như không còn sự sống nào.

  Sáng sớm ngày kế tiếp, sau cái buổi chiều rùng rợn ấy, mọi người trên tàu mở mắt ra và không tin được ở mắt mình, ai cũng duị dụi mắt, có người ngơ ngác nhìn quanh như hỏi xem có phải là sự thật. Một con tàu to lớn như thành phố nổi, mọi người đang nằm trên boong của nó, người thì được truyền nước biển, kẻ thì được tiếp thức ăn…Những giọt nước mắt nóng hỏi chảy ra sau mấy tuần khô kiệt. Có tiếng thều thào:” Sống rồi, chúng ta được vớt rồi”

 Bốn tháng sau, các nhân viên của liên hiệp quốc đến trại lập hồ sơ cho những thuyền nhân. Có người xin đi Canada vì có thân nhân, có kẻ thì xin đến Đức…và những trường hợp này đều ra đi mau chóng. Những người còn laị thì chọn đi Mỹ nhưng phải đợi hơn một năm sau. Ông Hải chọn đi Mỹ, nhân viên liên hiệp quốc xem sơ qua hồ sơ, lời khai lập tức chấp thuận ngay. Ông ôm vợ sung sướng nhỏ lệ:

 - Qua cữa tử rồi em, chúng ta sẽ đến Mỹ làm laị cuộc đời

 Khi ra lên tàu ra đi thì đầy đủ, giờ sắp đến đất tự do, miền đất hứa mà bao nhiêu người mơ ước thì chỉ còn bảy người. Ba người trong gia đình ông vĩnh viễn làm cư dân của đại dương. Lần đầu tới phao số không là qua một cửa tử, lần được vớt lên thuyền viễn dương là qua thêm cửa tử nữa, giờ thì được chấp nhận cho định cư ở Mỹ là qua ba cửa tử. Nghĩ đến đó ông Hải sụp lạy giữa đường, tạ ơn Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. 

 Khi Thụ lên phỏng vấn, nhân viên của liên hiệp quốc thông qua một người phiên dịch nói:

 - Anh đã ăn thịt người, vi phạm đạo đức căn bản của con người. Anh sẽ bị trả về nguyên quán! 

 Cả Tùng và gã tài công cũng bị bác hồ sơ vì tiếp tay cho Thụ.  Tùng và gã tài công thấy oan ức toan cãi thì tay nhân viên liên hiệp quốc đuổi ra ngoài. Thụ chết trân, không biết nói lời gì, quả báo thật không sai vạy, mặc dù Thụ chẳng thật sự ăn. Nhiều người  thấy nhưng ai cũng cứ bảo là Thụ ăn thịt người, nỗi tuyệt vọng lẫn uất ức dâng lên làm cho Thụ như ngạt thở, bất thần anh ta rút con dao găm ra và đâm vào bụng mình. Thụ ngã vật xuống, máu lênh láng, con dao găm này lúc trước Thụ đã xẻo miếng thịt trên đùi con Lành vẫn còn ngập trong bụng. Cả trại nhốn nháo lên, tiếng la hét, tiếng gọi cảnh sát, cứu thương ầm ĩ. Thụ nằm mơ màng thấy bồng bềnh trên đaị dương, xác con Lành nhợt nhạt dập dềnh qua làn nước xanh thẫm. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Ất lăng thành, 4/2020

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.