Thơ Nguyễn Lương Vỵ

10/01/202118:05:00(Xem: 3511)


DSC02085_2
Minh họa: Nguyễn Việt Hùng


ngồi với buổi chiều ở quê nhà

 

Ngồi nhìn nhau, khôn xiết biệt ly

Lắng nghe gió hát, giọng thầm thì:

Đời chớp tắt, người đi kẻ ở

Mấy mùa ly loạn, đỏ phong thi

 

Đỏ phong thi, khóc lá chiên đàn

Vườn xưa lót ổ, tiếng chim tràn

Hồn ai đó, sương tan ngoài ngõ

Bông dại ướt chiều, mây tím than

 

Mây tím than, bóng mộ tím bầm

Ma quen ma lạ, miểu sầu câm

Ngơ ngác đau, rồi ngơ ngác hỏi

Rưng rưng cát bụi, nắng thương thầm

 

Nắng thương thầm, tóc bạc òa bay

Tháng năm ứng mộng, ngửa lòng tay:

Gò lau trắng, bóng hình ta đó

Tiếng hú tê nhòa, đôi mắt cay.

 

Quán Rường, 2.2017

 



thăm người bạn cũ

 

Tặng bạn Nguyễn Đức Nhân (Thích Hạnh Giải)

 

Gặp lại nhau, hai chục năm dư

Nhà thơ nay khoác áo thiền sư

Samsara, cuối đời sực tỉnh

Về nương bóng núi với mây từ

 

Gặp lại nhau, cơm chay thanh tịnh

Chén trà hương mộc, ấm lòng trần

Cười khinh khoái, tình thân nhấp giọng

Trưa hiện tiền tiếng vọng khánh vân

 

Gặp lại nhau, chân mộng sớt chia

Ta mang theo một nửa trông về

Một nửa kia, bạn ngồi tỉnh thức

Thời kinh thinh không thơm nắng khuya

 

Gặp lại nhau, cũng vừa thất thập

Mây trắng chó xanh vốn thói đời

Tặng dăm câu, còn lơi nếp gấp

Bạn cùng ta hòa nhịp chảy trôi.

 

Bảo Lộc, 2.2017

Ghi chú:

. Samsara: Tiếng Pali, Sinh tử luân hồi.

. "Mây trắng chó xanh": Từ 2 câu thơ của Trần Nhân Tông trong bài thơ Đại Lãm Thần Quang Tự (Chùa Thần Quang Trên Núi Đại Lãm): "Tục đa biến thái vân thương cẩu / Tùng bất tri niên tăng bạch đầu: (Thói đời nhiều thay đổi, như mây trắng hóa chó xanh / Cây tùng [cây thông] chẳng biết gì đến năm tháng, đầu nhà sư đã bạc).

 

 

nàng nói huyên thiên | hớp từng ngụm không khí | thở ra tiếng cười rộn rã | và phóng những tia nhìn dễ chịu khắp phòng | tôi thật tình lâng lâng
tháng mười đi ngang bìa sông núi | khát khao một cuộc trở lại
Không biết Trần Bình Trọng nhưng lại thờ Quan Công tên mã phu kiêu mạn làm Thục Hán tiêu vong Sử Tàu thuộc như cháo không thuộc sử cha ông khóc Nhạc Phi, Hàn Tín mà khinh nhờn tổ tông
Có những điều không thể chịu đựng | Ta có thể trốn tránh chúng thật lâu | rồi ta chết.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Tôi không gọi là bệnh Tôi gọi là thời tiết cơn địa chấn từ ngực không bản tin nào dự báo Tôi hai mươi tuổi tin rằng mình đặc biệt cách một cơn mưa tin mình là nguyên nhân cơn lụt
Ngồi nhập định một vì sao | Thả hết vây cánh trôi vào mông lung | Khoảng trống ta Cảm Lạnh lùng | Ngoại thân níu kéo từng khung định hình
Cơn mưa đầu của mùa thu ở miền nam CA, tháng 9, mùa thu về rất sẽ dường như có tiếng gió chuyển mùa ở Sài Gòn, hòa âm. Và những ô tâm hồn nhạy cảm bật mở. Họ nhìn, nghe, cảm, sống với từng cung bậc ảo diệu của mùa Thu. Mùa thu hồng, lối biếc nơi Cali của Du Tử Lê làm mưa rơi và ướt trí nhớ ai? Cái gió chuyển mùa đêm qua nơi Sài Gòn của Trung Dũng Kqđ có mùi ngô đồng, và nó rơi xuống khi va phải một giàn giáo ở chợ An Đông.
Tôi nghe rằng ngày xưa | có lẽ nhiều thế kỷ trước | để thừa nhận sự sai lầm của công lý | một lá cờ trắng sẽ được cắm bên mộ người bị hành quyết oan
người dừng lại, phủi tay áo bụi cánh Việt Điều* chở bao lòng núi | chữ xanh trời ở lại ngàn trang
Những câu thơ vứt lại trên bàn như bữa ăn thừa nguội lạnh Tôi định giết mình bằng cách giữ lại những điều muốn viết Bật từng ngọn đèn trong nhà nhìn chúng chiếu vào một bóng tối khác
Rời đi như lời ca bị xé khỏi bài hát chưa kịp nghe Rời đi Như bài thơ Nhấn chìm ngôn ngữ
Thơ. đầy như tiếng thở ra | Có khi khúc hát ngân nga tuổi chiều | Từ em thả một cánh diều | Bay về định hướng liêu xiêu tình buồn