Hôm nay,  

Chuyện Chẳng Ngờ

15/06/202116:23:00(Xem: 6515)

 

Tại một quán cà-phê khá thanh lịch nằm ngay bên cạnh Bưu Điện Sài Gòn người ta thấy hai người đàn bà đang ngồi nói chuyện với nhau. Người thứ nhất tên Nga – một cô gái khoảng hai mươi ba tuổi, mặt mũi xinh xắn có dáng tự tin yêu đời của một người con gái có chồng, được chồng cưng chiều, hạnh phúc. Người thứ hai tên Nguyệt – một người đàn bà khoảng ba mươi lăm tuổi, kinh nghiệm, lịch lãm. Bà ta thuộc mẫu người biết hưởng thụ những gì đang có nhưng cũng sẵn sàng ứng phó với mọi bất trắc của cuộc đời. Nói tóm lại bà ta thuộc típ người bản lãnh. Họ vừa là đồng nghiệp vừa là đôi bạn tri kỷ cho nên câu chuyện thật thân tình, cởi mở. Người đàn bà trẻ lơ đãng nhìn ra đường, lấy chiếc thìa gõ nhẹ vào ly nước cam vắt vừa nói:

- Anh ấy yêu em hết mực, cái gì ảnh cũng chiều em cả.

Khẽ nhướng lông mày, Nguyệt – người đàn bà lớn tuổi nói với giọng bâng quơ:

- Thì mới lấy nhau mà. Ba năm còn mới lắm. Thời kỳ “rodage”, thời kỳ “hồng” mà em.

Nga không chú ý lắm đến lời bình phẩm của Nguyệt, nàng mơ màng nói tiếp:

- Ảnh nói em là người yêu lý tưởng, là người trong mộng của ảnh. Ảnh nói từ ngày lấy em tới giờ ảnh muốn đâm mù cả hai mắt để không còn nhìn thấy người đàn bà nào khác trên cõi đời này nữa.

Lúc này thì Nguyệt cười, tiếng cười giòn tan, nàng nói:

- Em tôi ngây thơ như cô “công chúa ngủ trong rừng” vậy đó.

Nga phản ứng nhưng rất nhẹ nhàng:

- Thật mà chị !

Nghe trả lời thế Nguyệt cầm tay Nga, lắc nhẹ, nói:

 - Em ơi đàn ông nó là sản phẩm của ông Trời sinh ra để tán tỉnh đàn bà. Gặp người đàn bà nào nó cũng nói như vậy đó.

     Dường như Nga đã đưa chiếc xe của mình vào “xa lộ tình yêu” cho nên tình cảm vẫn không giảm tốc độ.

- Anh ấy chung tình lắm chị ạ. Em dám cá bây giờ cho một cô gái thật đẹp sống chung trong nhà thì anh ấy vẫn chỉ biết có em thôi.

- Thế em đã thử chưa ?

- Cần gì phải thử chị !

Lần này thì Nguyệt nghiêm trang nói:

- Không thử sao biết người ta thật chung tình với mình ?

   Dường như hơi bị đuối lý nhưng Nga vẫn chống chế:

- Thử thì cũng được nhưng ngộ nhỡ ?

- Ngộ nhỡ tức là người ta đâu thực sự chung tình với mình, có phải vậy không ?

- Nhưng làm thế nào để thử ?

- Cái đó dễ lắm. Chị cũng đã  thử ông xã chị. Cách đó dịu dàng nhưng hữu hiệu lắm.  

Nói xong Nguyệt lấy hai tay chụm lại, nói nhỏ vào tai Nga. Không hiểu Nguyệt nói gì mà chỉ thấy Nga khúc khích cười, nói:

- Kế ấy hay thật! Chị đúng là bậc thầy. Em phục chị sát đất!

Thấy Nga đã theo đúng kế hoạch, Nguyệt nói như thúc giục:

- Thế bây giờ anh ấy đang làm gì ? Có thể thử ngay bây giờ được không?

Khẽ chớp mắt Nga nói:

- Giờ này ảnh đang ở nhà, ảnh nghỉ phép.

- Trời ơi, đúng là dịp may bằng vàng! Vợ đi làm, chồng ở nhà nghỉ tà tà chính là lúc tâm hồn mấy chả lâng lâng tìm về quá khứ, ôn lại tình cảm xưa cũ. Đây chính là thời gian tốt nhất để thử thách đó em.

- Được rồi em sẽ làm ngay.

            Nói xong Nga đi tới quầy điện thoại, bỏ tiền rồi quay số. Nàng rút ở trong ví ra một chiếc khăn mùi-soa, cẩn thận bọc quanh chiếc ống nói. Còn Nguyệt thì đứng bên cạnh đưa mắt nhìn như thể cô giáo theo dõi học sinh làm bài thi. Khi nghe tiếng chuông reo và biết chắc chồng mình đã nhắc máy điện thoại, Nga tằng hắng, sửa giọng để chồng không nhận ra giọng nói của mình, rồi run run nói:

- Allô, có phải anh Tùng đó không ?

- Vâng, tôi Tùng đây. Xin lỗi ai đầu dây vậy ?

- Em đây. Em là Mộng Điệp. Anh không nhận ra em à ?

- Không. Nhưng Mộng Điệp nào vậy ?

- Trời ơi anh tệ bạc quá (giọng nghen ngào) ! Mộng Điệp là cô thư ký của anh lúc anh còn là phó trưởng ty ở Nha Trang đó. Anh không nhớ em sao ?

- Trời ơi Mộng Điệp ! Nhưng làm thế nào em có số điện thoại của anh ?

- Sau khi được bổ về Gia Định làm trưởng ty anh hứa ra Nha Trang cưới em. Anh gặp mấy cô gái đẹp ở Sài Gòn anh quên em (khóc vì uất ức) ! Em tìm anh như thể tìm chim. Em đến Bộ để hỏi thăm tin tức về anh.

- Em tha lỗi cho anh. Âu cũng tại duyên số. Lúc đó Sài Gòn giới nghiêm, đường xá xa xôi cách trở. Tuy lấy bà ấy nhưng anh....

- Nhưng làm sao? (tí nữa thì Nga thét vào máy “ Đồ thằng cha cà chớn!” nhưng may mà ngưng lại được)

- Vẫn nhớ em!

- Trời ơi ! (Nga muốn quật chiếc máy điện thoại xuống đất nhưng Nguyệt đứng bên cạnh lấy tay chỉ vào miệng ý nói cứ bình tĩnh )

-  Anh có biết bao năm nay em đau khổ vì anh không ?

- Anh xin lỗi Mộng Điệp mà ....

- Thế bây giờ em muốn gặp anh ít phút có được không ?

- Cái đó thì ... (giọng ngập ngừng)

- Em xin anh một ân huệ cuối cùng. Gặp nhau ít phút rồi em sẽ vĩnh viễn ra đi để trả lại hạnh phúc cho anh với.... người ta.... (khóc tấm tức)

- Gặp thì cũng được (giọng e ngại) nhưng không biết bà ấy có ghen không ? (Nghe nói tới đây thì Nga muốn hét to vào máy “Ghen hả! Tôi cắt cổ ông chứ ghen hả? Thằng cha cà chớn! “)

- Thôi được rồi. Anh cũng liều một chuyến. Thế gặp em ở đâu bây giờ ?

- Em đang đúng ở Bưu Điện Sài Gòn để gọi điện thoại cho anh. Trước cửa bưu điện có một sạp báo. Anh tới sạp báo, giả bộ nhặt một tờ lên coi. Em trong này nhận ra anh là em chạy ra gặp anh ngay.

- Thôi được rồi. Mười lăm phút nữa anh sẽ có mặt ở đó.

-  Đừng bỏ em một mình nghe anh ! (giọng não nề)

            Nói xong Nga gác máy điện thoại, quay qua nhìn Nguyệt. Dù Nga không nói gì nhưng Nguyệt đã hiểu rõ nội dung câu chuyện. Hai người nấp sau cánh cửa kính, hồi hộp nhìn ra ngoài. Khoảng mười lăm phút sau một chiếc xe Lambretta chờ tới. Người lái xe không ai khác hơn là Tùng. Chàng ta xuống xe rồi dựng xe ở bờ lề.  Nhìn thấy chồng, Nga mở trừng trừng đôi mắt. Và khi Tùng  tiến tới xạp báo, đưa tay nhặt lên một tờ thì Nga té xỉu vào cánh tay của Nguyệt.

            Ba ngày sau Nga đi làm trở lại, phấn son lợt lạt, đôi mắt quầng thâm, mặt mày trầy sướt – dấu tích của những trận vật vã, chén bay đĩa bay với chồng trong mấy ngày qua. Gặp Nguyệt, Nga không thèm chào hỏi, mặt lầm lầm lì lì, nói:

- Em xin nghỉ phép mười ngày, đưa sấp nhỏ về bên ngoại cho thằng chả ngủ một mình cho biết thân!

 

Lời người kể chuyện: Thử thách theo cái kiểu này thì ông chồng nào không chết thì cũng bị thương.

 

 Đào Văn Bình

(trích tuyển tập truyện ngắn Mê Cung, Ananda Viet Foundation, Amazon phát hành)

 

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.