Hôm nay,  

Khái Niệm Mới Về Dịch Thuật

06/03/202209:38:00(Xem: 4501)

Capture

(Lược và trích trong chương một của The Theory and Practices of Translation của Eugene A. Nina và Chaeles R. Taber. Bản dịch ở Hoa Kỳ xuất bản 1982 bởi E.J. Brill, Leiden, trong chương trình Helps For Translation. )

Giới thiệu:

Những ai thích dịch hoặc thích đọc bài dịch từ kho tàng chữ nghĩa của thế giới, xin mời đọc bài này.

 

LỜI DẪN:

Bài viết tuy có nội dung dịch thuật về kinh thánh, nhưng khái niệm tổng quát về dịch áp dụng chung cho nghệ thuật dịch, được phát triển mạnh mẽ trong nửa phần sau của thế kỷ 20 và phổ biến sâu rộng sang thế kỷ 21 vào những lãnh vực dịch khác nhau, nhất là văn chương và văn hóa.

Xin nhắc rằng, hệ thống dịch lớn nhất và dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau nhất trên thế giới là hệ thống dịch kinh thánh của giáo hội La Mã. Vì vậy, kinh nghiệm lý thuyết, kinh nghiệm thực hành, kinh nghiệm nghệ thuật dịch của họ dày, rộng, và sâu. Một trong vài người dẫn đầu hệ thống dịch này là Eugene A. Nina.

Dịch thuật ở Việt Nam thừa hưởng từ nền dịch thuật của Pháp từ nửa đầu thế kỷ 20, nay đã xưa cũ và có nhiều phần trong lý thuyết cùng phương pháp dịch đã lỗi thời. Dịch sát theo ý tác giả và dịch sát theo ngôn ngữ của bản gốc là hai việc khác nhau, nếu chưa nhận định được khái niệm này, nên suy xét lại. Dịch bám sát theo bản gốc là quan niệm truyền thống, nay, đã không còn là ưu điểm hàng đầu. Nhất là dịch thơ. Giỏi ngôn ngữ chưa hẳn là người dịch đáng tin cậy.

Những việc ấy tuy quan trọng nhưng chưa quan trọng bằng ý muốn dịch và ý “chê dịch” của một số người biết dịch. Ý muốn dịch theo quan niệm của mình là đúng, vì mình sẽ chịu trách nhiệm với phẩm chất và nghệ thuật dịch, tuy nhiên, không thể kết luận phương pháp dịch của mình là độc tôn, đứng nhất thiên hạ. Ý “chê dịch” là ý sai lầm. Vì bản chất của dịch là sai, nên dịch giỏi là làm giảm bớt lỗi và dịch hay là thay thế bớt những lầm lẫn, nhưng không có bản dịch nào hoàn hảo, 100% theo ý tác giả.

Người Việt cần đọc nhiều văn bản dịch trong mọi lãnh vực để nhận ra những điều hay, lẽ phải, những gì cần phải biết từ sức khỏe, khoa học, kinh tế, chính trị, xã hội , tâm lý, văn hóa, văn chương, văn học, quân sự, vật lý, hoá học … tóm lại là tất cả những gì giúp cho trí tuệ và tâm tư của chúng ta đào sâu mở rộng và bừng lên ánh sáng của thế giới.

Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?

(Ghi: Chữ thẳng là bản dịch từ bản gốc. Chữ nghiêng là lời của người dịch. Và tôi xin trình bày theo lối bản viết rời.)

 

1.

Chưa bao giờ trong lịch sử thế giới lại có nhiều người tham gia vào việc dịch thuật về cả hai mặt: thế tục và tôn giáo. Người ta ước tính, ít nhất khoảng 100. 000 người dành phần lớn hoặc toàn bộ thời giờ cho công việc này. […] Thật không may, lý thuyết cơ bản về dịch đã không bắt kịp sức phát triển của các kỹ năng. Đối với việc phiên dịch của tôn giáo, mặc dù nhiều tài năng thánh hiển và nỗ lực tận tụy, sự hiểu biết đã bị lỗi thời so với khả năng dịch thuật trong các lãnh vực thế tục. […] Sự nhận định có vẻ ta thán của Nina, vì ông nhìn ra những thay đổi của nghệ thuật dịch bên ngoài tôn giáo. Không bị bó buộc bởi những giáo điều, các học giả khác, cùng thời, đã đưa ra những ý niệm và phương pháp dịch phù hợp thời đại, tự do hơn và mỹ thuật hơn.      

2. TRỌNG TÂM KHÁC BIỆT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ TÂN THỜi.

Theo trọng tâm cũ, việc dịch là hình thức của thông điệp, và người dịch thích thú vào phần tái tạo các đặc điểm về văn phong, ví dụ nhịp điệu, vần, cách chơi chữ, những ngữ pháp khác thường … Trong khi, trọng tâm mới di chuyển từ hình thức của thông điệp to sự phản hồi của người cảm nhận. Nghĩa là, điều để người ta quyết định là phản hồi của người đọc đối với thông điệp. (Một ví dụ thú vị, tuy là một trường hợp đặc biệt, nhưng nếu trải rộng ra, đó là những khó khăn bình thường gặp phải khi dịch: Trong kinh thánh có đoạn kể lại chuyện Chúa Giê-Su chữa bệnh người bị quỉ ám, khi đuổi con quỉ ra khỏi người bệnh, trông thấy đàn heo đi qua, Chúa đuổi quỉ nhập vào đàn heo chạy xuống vực sâu. Nếu dịch đúng bản gốc, vào trong xứ đạo Hồi thờ phượng con heo, thì kinh thánh sẽ bị tẩy chay. Vì mục đích truyền đạo quan trọng hơn, người dịch đổi đàn heo thành đàn cừu, đàn dê. Quỉ nhập vào cừu, vào dê thì không xâm phạm đến tín ngưỡng Hồi giáo. Thời đại hôm nay cho phép dịch được thay đổi theo mục đích và văn hóa để mang lại ích lợi, không nhất thiết phải bám theo ý tác giả.)  

Sự phản hồi này sẽ được so sánh với sự phản hồi của nguyên bản, tức là sự cảm nhận qua hình thức thông điệp.

Nếu câu hỏi cũ là: Đây có phải là một bản dịch chính xác không? Bây giờ, phải trả lời thêm một câu hỏi: …bản dịch chính xác cho ai? Tính chính xác được xác định bởi mức độ mà người đọc “trung bình” trong văn bản dịch mà dịch giả muốn họ có thể hiểu một cách chính xác. Chúng tôi không chỉ quan tâm đến khả năng hiểu đúng của người đọc, mà còn có khả năng lôi cuốn thú vị. Nói một cách khác, không chỉ đơn thuần dịch nội dung để người đọc trung bình hiểu được thông điệp, hơn nữa, chúng tôi muốn bảo đảm, họ khó có thể hiểu lầm.

Đặt câu hỏi vế tính đúng chính xác theo kiểu này, đương nhiên ngụ ý sẽ có một số cách dịch khác nhau, có thể gọi là “đúng” (hoặc tiếp cận sát sự đúng.) Trong thực tế, đối với các học giả đã hiểu rõ bản gốc, ngay cả bản dịch theo nghĩa đen, tốn nhiều công sức, cũng là bản “đúng” (theo nghĩa tiếp cận sát,) họ không lầm lẫn. Mặt khác, trong hầu hết các cộng đồng ngôn ngữ lớn, đặc biệt khi họ áp dụng ngôn ngữ quốc tế mà hàng triệu người sử dụng, sẽ có một số trình độ văn hóa xã hội khác nhau về khả năng nói và hiểu. Nghĩa là, cần phải đòi hỏi một số cấp độ dịch khác nhau về từ vựng, cấu trúc ngữ pháp, để mọi người có cơ hội căn bản đồng đều cảm hiểu thông điệp trong bản dịch. […]

Ông Nina phát biểu khá rõ ràng về sự “đúng”, nhiều cách dịch khác nhau, đều “đúng”. Nghe có vẻ rất nghịch lý, nhưng nếu xét về mặt phức tạp của các ngôn ngữ khi đối chiếu sẽ có sự chọn lựa giữa: đồng nghĩa, tương đương, tương xứng, tương ứng, để dùng vào văn bản dịch cho rõ cho hay theo ý dịch giả, (có nghĩa, trình độ hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi dịch giả sẽ xác định giá trị bản dịch), thì “ tiếp cận đúng”, nhiều cách đúng, có ý nghĩa hơn là “sai.” Quan điểm này ủng hộ nghệ thuật dịch trăm hoa đua nở. Trong đoạn này, Nina còn nhắc đến, “một bản dịch cũng có thể nặng về mặt văn phong  đến mức gây ra khó hiểu.” Câu nói này nhắc nhở một số người dịch quá chú trọng theo sát văn phong của tác giả, nghĩa là bám sát cấu trúc ngữ pháp và từ vựng để đồ lại (copy) nhan sắc của văn bản gốc, nếu tạo ra một văn bản khó hiểu hoặc không thể hiểu, thì vô ích. Nhất là dịch thơ, không nhất thiết phải bám trụ thể thơ và bắt chước câu thơ.

3. THÁI ĐỘ MỚI TÔN TRỌNG NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI ĐỌC.

Một số vấn đề trở ngại trong việc dịch (kinh thánh hoặc áp dụng vào dịch văn bản thế tục) có thể bắt nguồn từ thực tế: người ta thường có quan điểm khá lầm lẫn về người đọc cũng như các ngôn ngữ gốc. Vì vậy, để dịch các văn bản tiếp cận mục đích tương đương sự phản hồi, người dịch cần thay đổi quan niệm về ngôn ngữ mà họ đang dịch. Điều này không chỉ bao gồm thay đổi một số thái độ có khuynh hướng đặt ngôn ngữ gốc lên bệ thần học (xem trọng, bất di bất dịch không thể thay đổi) cúi đầu tôn thờ một cách mù quáng, mà đòi hỏi phải triệt để suy nghĩ lại thái độ đối với ngôn ngữ của người đọc, ngay cả khi nó là tiếng mẹ đẻ của mình. (Nói dễ hiểu hơn, không thể quá tôn trọng ngôn ngữ gốc của tác giả một cách mù quáng, mà phải quan tâm đến ngôn ngữ của độc giả.)              



4. ĐẶC TÍNH RIÊNG CỦA MỖI NGÔN NGỮ.

Ngay từ đầu, điều cần thiết là phải nhận ra, mỗi ngôn ngữ đều có tính đặc sắc và huyền ảo của nó. Nghĩa là, mỗi ngôn ngữ sở hữu những đặc tính riêng biệt tạo ra cho nó một số sắc thái riêng tư. Ví dụ: khả năng thành lập chữ, những mẫu độc đáo của trật tự hành văn, kỹ thuật liên kết các mệnh đề thành câu, các dấu hiệu của diễn ngôn, và các kiểu diễn tả đặc thù của địa phương. Những điểm này hiện rõ trong thơ. (Chúng ta có thể chia sẻ quan điểm trên dễ dàng, cứ nhìn vào thế giới ngôn ngữ, sẽ thấy ngay ngôn ngữ chia ra một số vùng chữ viết, như vùng chữ tượng hình của Trung quốc, vùng chữ abc phát xuất từ Ai cập và La mã, vùng chữ “siêu thực” tiếng Phạn … Mỗi vùng chia  nhánh ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, và mỗi ngôn ngữ gắn liền với địa lý, phong thổ, cá tính dân tộc, lịch sử, của mỗi địa phương, phát sinh những đặc tính khác biệt.)

Để thông đạt có hiệu quả, người ta phải tôn trọng sự tinh túy của mỗi ngôn ngữ.

Thay vì than phiền về việc thiếu một số đặc tính trong một ngôn ngữ, người dịch nên tôn trọng những đặc điểm trong ngôn ngữ của người đọc và khai thác tiềm năng của ngôn ngữ đó ở mức độ cao nhất có thể áp dụng. […] Đơn giản, người ta phải chấp nhận trong thực tế, có nhiều ngôn ngữ không có (hoặc không muốn) sử dụng giọng thụ động. Đơn thuần, họ chỉ tường trình các hành động như là các hoạt động. Thay vì cưỡng ép những cấu trúc chính thức của ngôn ngữ này lên ngôn ngữ khác, người dịch giỏi đã chuẩn bị kỹ để dịch thay đổi bất kỳ các cấu trúc chính thức nào cần thiết để tái tạo những thông điệp, thông tin, ở dạng cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ độc giả.

Bất cứ điều gì có thể nói bằng ngôn ngữ này, đều có thể nói bằng ngôn ngữ khác, trừ khi hình thức đó là một yếu tố tinh chất của thông điệp.

Đối với người bình thường, tiềm năng và sự tương đương trong thực tế của ngôn ngữ có lẽ là điểm tranh luận nhiều nhất về dịch thuật. Sẽ rất khó hiểu, nếu một người chưa bao giờ thấy tuyết lại có thể hiểu một đoạn kinh thánh nói về “trắng như tuyết”. […] Ví dụ trên cho thấy, nếu độc giả không có kinh nghiệm về một sự việc gì trong ngôn ngữ bản gốc, khi đọc bản dịch, dù dịch hay, dịch đúng, họ vẫn không thể cảm nhận hoặc chia sẻ. “Tuyết” là vật cụ thể, thực tế, có thể thấy qua báo chí, hình ảnh, dù chưa thực sự đối diện với tuyết. Nếu là một sự kiện, hình tượng trừu tượng, hoặc ý tưởng mà độc giả chưa biết bao giờ, đương nhiên họ không thể lãnh hội. Điều này áp dụng vào câu văn, có rất nhiều ngôn ngữ xây dựng câu văn khác với ngữ pháp quen thuộc của độc giả, thấy rõ nhất là trong dịch thơ, vì vậy, có sự cân nhắc và lựa chọn trăn trở khi thay đổi thể thơ và cách cấu trúc trong câu thơ.  

Tuy nhiên, phải nói rằng, nếu hình thức (cách diễn tả) thông điệp là yếu tố thiết yếu cho ý nghĩa của nó, thì rõ ràng có một giới hạn trong việc truyền đạt ý nghĩa từ bản gốc sang bản dịch. Thông thường không thể tái tạo loại ý nghĩa này. Ví dụ, trong chương thứ ba của John. Chúa Giê-Su nói về “gió/wind” và “thánh linh/Spirit”. Trong tiếng Hy lạp “pneuma” dùng cho cả hai ý nghĩa. Điều này dẫn đến cách chơi chữ quan trọng, nhưng không thể minh bạch dịch sang Anh ngữ. Trong trường hợp này cần ghi chú bên lề để độc giả biết một từ vựng của bản gốc mang hai ý nghĩa khác biệt. (Dịch một văn bản khó mà không có ghi chú hoặc giải thích gì, có nghĩa là người dịch hoặc quá tự tin hoặc xem thường phẩm chất dịch.)  

Trong tinh thần đó, người dịch gặp khó khăn, gần như không thể, tái tạo nhịp điệu, vần điệu của thơ và nhất là những nét đặc sắc hoặc đặc thù của bài thơ và những ám chỉ có chủ đích. Ở thời điểm này, ngôn ngữ mất khả năng tương ứng, người dịch phải chuẩn bị hy sinh một số hình thức (cách diễn đạt) hay đẹp nào đó vì ích lợi chung của nội dung. Nghĩa là, để bảo toàn nội dung của thông điệp, hình thức diễn đạt phải thay đổi. (Lập luận chính xác) Nếu tất cả ngôn ngữ khác nhau về hình thức, và đây là bản chất khác biệt của ngôn ngữ, thì hoàn toàn tự nhiên các hình thức diễn đạt phải thay đổi để bảo toàn nội dung. […] Lập luận này trở thành định đề trong dịch thuật, biểu lộ rõ rệt nhất trong thơ, lời nhạc, và văn bản triết học. Đa số những phê phán về dịch sai rơi vào những trường hợp này. Sự chọn lựa để hy sinh một số hình thức ngôn ngữ, kể cả ý và tứ để bảo toàn nội dung hoặc giữ gìn tinh túy bản gốc của mỗi dịch giả, sẽ khác nhau và dĩ nhiên khác với chọn lựa của người phê phán. Trong lãnh vực dịch thuật, nhất là dịch văn bản văn chương, sự phê phán thường biểu lộ sự thiếu hiểu biết, sự tự tin cường điệu, hơn là đúng hoặc sai. Đơn thuần, cá nhân đó tự cho mình quyền tối cao phê chuẩn ngôn ngữ.

Xin ghi nhận rằng, dịch giả thường không có nhiều danh vọng. Những dịch giả giỏi đã là tác giả hoặc nhanh chóng trở thành tác giả. Cho dù là ai, khi dịch, người đó trở thành kẻ phục dịch, người trung gian chuyển tiếp nội dung và hình thức bản gốc sang một khối văn bản dịch. Công việc này thường bị chê hơn là khen. Dịch giả là một phó thường dân của tác giả, đồng thời là người phục vụ nơi bàn ăn chữ nghĩa của độc giả, hầu hết mọi hầu hạ trong các bữa ăn đều không có tiền típ.

Vì bản chất tinh túy của ngôn ngữ, và ngôn ngữ thế giới chia ra nhiều dòng dõi khác biệt. Khi dịch các ngôn ngữ trong cùng một dòng dõi thì sự thay đổi hình thức diễn đạt ít hơn, dễ hơn đối với dịch ngôn ngữ khác dòng dõi. Ví dụ dịch tiếng Spanish sang tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức thì thuộc vào trường hợp dịch thuật trong cùng đại gia đình. Nếu dịch tiếng Anh sang tiếng Iran, Ả rập … sự thay đổi hình thức diễn tả sẽ thường xuyên và đôi khi không thể nào phiên dịch. Còn nếu như dịch tiếng Batu Phi châu qua tiếng Anh, sẽ còn phải quyết liệt hơn để chọn lựa những gì có thể chuyển dịch. Tiếng Anh là tiếng thông dụng, tự bản thân đã chất chứa những kinh nghiệm thay đổi mang tính toàn cầu, Còn như dịch các ngôn ngữ khác sang tiếng Việt, khó khăn lên đến bội phần. Tuy nhiên, khi gặp thực khách khó tính, khó chịu, nói năng khó hiểu, không lẽ người hầu bàn bỏ việc ra về?

5. THÁI ĐỘ MỚI LIÊN QUAN ĐẾN NGÔN NGỮ GỐC.

Thái độ dịch mới quan tâm đến ngôn ngữ người đọc chắc chắn ngụ ý một cách nhìn mới về ngôn ngữ gốc. […] 

Người dịch phải cố gắng tái tạo ý nghĩa của mỗi đoạn văn theo ý hiểu biết của người viết. Nguyên tắc cố gắng tái tạo ý nghĩa một đoạn văn mà người viết hiểu một cách tự nhiên không cần phải nói, nhưng ở đây vẫn có nhiều điều người ta đáng thắc mắc. Ví dụ, một số người nhấn mạnh việc dịch tiếng Hy  Lạp trong Tân Ước, phải trở về với ngôn ngữ Aramaic để hiểu rõ Chúa Giê-Su đã nói gì trong ngôn ngữ này. Nói một cách khác, điều người viết hiểu dễ dàng, sau một thời gian dài, không hẳn là những gì người đọc có thể lãnh hội rõ ràng. Cứ như Kinh Thi đã được Khổng Tử san định, được các cao nhân giảng giải, được Nguyễn Hiến Lê bàn soạn, nhưng đến đời cháu của chúng ta, họ dễ gì cảm nhận những thâm thúy mà cha mẹ chúng ta từng vỗ tay tán thưởng? Dịch không dễ dàng, đơn giản, chuyển chữ này sang chữ kia, giải ý này qua ý nọ, mà chủ yếu vấn đề đa văn hóa và văn hóa khác biệt qua thời đại. Trước thời Chúa Giê-Su cụm từ “cổng trời” chỉ định một nơi biệt giam trên đỉnh núi không có đường xuống. Đến đời Tân Ước, “cổng trời”, trở thành cửa thiên đàng, dịch giả biết dịch làm sao?

 

Hết chương Một. Mời đọc chương Hai: The Nature of Translating của  Eugene Nina trong lần sắp tới. 

Ngu Yên

 

 

 

 

 

 

 

 

Phía sau cái tên Minoru Yamasaki và một công trình từng cao nhất địa cầu, và cũng là nơi 25 năm trước trở thành hiện trường của cuộc tấn công khủng bố đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ, là câu chuyện về một người Mỹ gốc Nhật thế hệ đầu, đi lên từ nghèo khó và định kiến, để trở thành một trong những kiến trúc sư được ngưỡng mộ nhất của nước Mỹ thời hậu chiến.
Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Tư tưởng gia người Mỹ George Santayana (1863-1952) đã từng viết trong tác phẩm “The Life of Reason: Reason in Common Sense” được xuất bản năm 1905 rằng, “Những ai không thể nhớ quá khứ thì bị buộc phải lập lại nó.” Có lẽ ý của ông Santayana là nếu ai không học được những bài học của quá khứ thì sẽ phải tiếp tục dẫm lên vết xe đổ. Một con người đánh mất quá khứ tức là mất đi ký ức thì sẽ không nhận biết mình là ai, do đó cũng sẽ không biết mình phải làm gì để xây dựng tương lai. Tương tự như vậy, một dân tộc đánh mất quá khứ lịch sử thì dân tộc đó sẽ không có tương lai. Quá khứ dù có xấu xa cỡ nào thì cũng là những gì mà chính con người hay một dân tộc đã từng làm. Trên thế gian này không một ai và không một dân tộc nào đã không từng một lần phạm phải sai lầm. Nhưng những sai lầm đó trong một ý nghĩa nào đó chính là những điều quý giá mà một con người hay một dân tộc có thể rút ra được bài học để có thể không tái phạm và làm điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai.
Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
Các khoa học gia tại Đại học New York theo dõi hoạt động não của 23 người thông thạo cả Anh ngữ lẫn Tây Ban Nha. Họ nhận thấy những mẫu hoạt động thần kinh gần như giống nhau khi người tham dự biến một danh từ từ số ít sang số nhiều trong cả hai thứ tiếng. Phát hiện này cho thấy não không nhất thiết phải dựng nên một hệ thống ngữ pháp riêng cho từng ngôn ngữ. Thay vào đó, nó có thể dùng chung một cơ chế căn bản, rồi điều chỉnh cơ chế ấy theo quy tắc của mỗi tiếng.
Một cuộc thăm dò mới của CNN do SSRS thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ chung đối với Tổng thống Donald Trump đã sụt giảm mạnh xuống còn 34%, ngang bằng mức thấp nhất trong sự nghiệp của ông. Ngoài ra, con số kỷ lục 73% người trưởng thành tại Mỹ cho rằng ông chưa dành đủ sự quan tâm cho những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Cuộc thăm dò, được thực hiện từ ngày 23 đến 27 tháng 7 năm 2026, cho thấy sự bất mãn lan rộng trên nhiều nhóm nhân khẩu học và các vấn đề khác nhau. Cử tri da trắng đóng vai trò then chốt trong thành công chính trị của ông Trump suốt hơn một thập kỷ qua. Theo truyền thống, Trump thường đạt kết quả tốt hơn nhiều trong nhóm cử tri da trắng so với toàn thể cử tri. Mức độ ủng hộ của nhóm này cũng đã giảm đáng kể trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026. Tỷ lệ ủng hộ ròng của ông Trump—được tính bằng cách lấy tỷ lệ ủng hộ trừ đi tỷ lệ không ủng hộ—trong nhóm cử tri da trắng đang ở mức âm 20, mức thấp nhất từng được ghi nhận.
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến. Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm. Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.
Vào những năm 1520, 1530, có một người tên Esteban de Dorantes, người đời quen gọi là Estevanico, đã một mình băng qua sa mạc mênh mông của vùng đất nay là Texas, New Mexico và Arizona — trước khi người Anh dựng nên Jamestown năm 1607 gần một thế kỷ, và trước khi đoàn di dân Pilgrim đặt chân lên Plymouth năm 1620 tròn một trăm năm. Ông sinh ra ở Azemmour, một thị trấn ven Đại Tây Dương của Ma Rốc, bị bắt làm nô lệ, đưa sang Tây Ban Nha rồi vượt biển sang Tân Thế Giới. Trong một chuyến viễn chinh bi thảm khiến gần như cả đoàn bỏ mạng, Estevanico là một trong số ít người sống sót. Ông học được nhiều thứ tiếng bản địa và trở thành một trong những người đầu tiên của "Old World" đặt chân xuyên suốt miền nam nội địa của nước Mỹ sau này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.