Hôm nay,  

Hài Cú Lập Xuân

10/03/202300:00:00(Xem: 5308)
Hai Cu lap Xuan
“Gái Xuân Bẻ Mận – Beauty Breaking An Ume Branch*”
Tranh Suzuki Harunobu (1725-1770)
 
Ngày Xuân Phân là ngày chính giữa của mùa Xuân theo âm lịch và cũng là ngày đầu tiên của mùa Xuân ở Bắc bán cầu theo dương lịch (Vernal Equinox). Trong ngày này, thời gian của ban ngày và ban đêm bằng nhau, nói cách khác là âm dương cân bằng. Nhờ thế vạn vật bắt đầu sinh sôi nảy nở, hoa sẽ dâng hương cho niệm xuân tình.
 
Trong một ngày lập xuân nhiều thế kỷ trước, Sư Huyền Quang [?] ngẫu nhiên bắt gặp hình ảnh một thiếu nữ bên song liền viết bài “Xuân Nhật Tức Sự”. Bài thơ tả người thiếu nữ đang thêu thùa, bỗng chim hoàng oanh líu lo từ lùm tử kinh bên ngoài khiến nàng ngừng mũi kim. Không tiếng lời vì xuân tràn trong ngỏ ý, ngoại cảnh cũng như tâm tư. Nói lời gì cũng bằng thừa khi mạch mới tràn dâng. Nụ đang chúm, không chỉ hoa, nụ còn là môi bung cánh sen, đỏ hường xuân thắm. Bởi vì bây giờ đã sang xuân. Xuân đang thì...
 
Trong một bài thơ khác, “Xuân Cảnh” của Trần Nhân Tông, nhà vua và khách cùng im lặng trước sự diệu kỳ của núi lam xuân thì trước mặt.
         
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thuý vi.
 
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng tựa lan can nhìn núi mây.
(Bản dịch của Huệ Chi)
 
Hai bài thơ cùng nói đến Xuân, mượn ý Xuân và sự im lặng khi đối mặt như một ẩn dụ về chân lý không thể nghĩ bàn? Cùng một cảm ứng, Mizuhara Shuoshi, nhà thơ Nhật Bản cuối thế kỷ 19, “chạm mặt” Xuân khi hé nhẹ cửa chùa, lặng người trước giàn hoa xuân phơi phới bên ngoài. Kỳ thú ở chỗ phản ứng không lời của họ, người ngừng thêu, vua quan thôi nói, kẻ chạm khẽ cửa chùa, không hẹn mà cùng giao thoa một ý. Niềm thinh lặng và tròn đầy của vô ngôn trong giờ sáng tạo – Xuân. Mênh mông bất tận nằm ở phía sau những cái không thấy được, không nói được, mênh mông ấy nào thiết đến ngôn ngữ. 
 
Ashibi saku/ Kondo no to ni/ Waga furenu
         
The Japanese andromeda blooms.
The door of the kondo
I touched.
(Mizuhara Shuoshi)
 
Nhành đinh lăng mở sắc phơi
cửa thềm chánh điện
một tôi chạm mành. (*)
                    
Mấy thế kỷ sau, bên cạnh “cành lê trắng điểm”, một người con gái đọc thư dưới trăng, một hình ảnh thơ mộng như chưa từng thơ mộng. Trăng đêm ấy nhất định phải sáng lắm, dạt dào như tiếng lòng em rộn rã, “Hoa lá ngây tình không muốn động / Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi” (Hàn Mặc Tử). Đó là thư tình với nhiều hẹn hứa, lời khêu mở khát dâng hay chỉ là một lá thư thường tình? Đố ai biết, có thể là một ẩn tình, một dấu hỏi trong đêm xuân, chỉ có trăng làm chứng, nhưng thật sự có cần nên biết? Buson kể lại như thế này,
          
nashi no hana tsuki ni fumi yomu onna ari
                   
Pear trees in flower
a woman reads a letter
by moonlight
(Buson)
         
Lê trổ bông
gái hong thư
trăng ngời giấy chữ thốt thưa xuân tình (*)
         
Thôi thì ta cứ giả thuyết như vầy, “rồi một hai ba năm... với em anh chăn tằm, với em anh dệt vải...” (Nguyễn Bính).
                
Một trong những đặc tính của thơ hài cú ví như chiếc máy ảnh, thu nhiếp khoảnh khắc đang biến dịch, khi thời gian là sự vận hành liên tục từ quá khứ qua hiện tại và tiến vào tương lai trong từng sát na, đơn vị đo lường thời gian nhỏ nhất trong Phật giáo. Theo lý thuyết nhà Phật, dòng thời gian là một chuỗi vô thủy vô chung, không thể phân định được đâu là quá khứ, hiện tại và tương lai, nên cả ba thời đều có chung một tướng, đó là vô tướng. Luận sư Vô Trước quan niệm thời gian là sự tiếp nối tương tục của nhân và quả. Ánh sáng chuyền lan ánh sáng, thái dương đi xuống tiếp tay làm cuộc hôn phối ngày đêm. Ánh sáng không tắt, chỉ chuyển ngôi, như thời gian, làm sao phân định trước/sau? Chiều chưa hề chấm dứt bước đi khi nắng hóa sinh đơm ánh nguyệt lộng đêm huyền, tấu bản giao hưởng diệu kỳ nhất của một hoàng hôn mùa xuân. Buson ví tiến trình đó như hai ngọn nến luân lưu nguồn sáng, giữa mặt trời và mặt trăng, từ mùa đông đến mùa xuân, một sự liên tục của thời gian không dứt. Vi diệu thay cái đang đi không thể bắt gặp lại lần nữa...  
         
shokunohiwo shokuni utsusuya harunoyuu
                     
The light of a candle
Is transferred to another candle —
Spring twilight
(Buson)
         
Lửa hồng lạp
nến chuyền luân
lung linh thắp vòm đêm xuân giao mùa (*)
         
Xuân đến không chỉ báo tin bằng hoa mà còn bằng hương, hương mận và trăng lụa. Mận là mơ, là cô gái đôi tám bẽn lẽn bên vườn mang hương trinh gọi mời ong bướm. Không nồng nàn như dạ lý hay quyến rũ của ngọc lan, mận mang hơi hướm bưởi nhưng nhẹ hơn, tỏa hương về khuya nhắc nhở đôi tình nhân thời gian hẹn hò chẳng còn bao nhiêu, “Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya...” (Xuân Diệu). 
         
Haru moya ya/ Keshiki totonou/ Tsuki to ume
                   
The spring haze.
The scent already in the air.
 The moon and ume.
(Basho)
         
Làn sương xuân
trời lựng hương
nguyệt soi nhánh lặng treo vườn mơ đêm (*)
         
Theo thông thường ước lệ, hoa nở sẽ gọi niềm vui, và hoa rụng nhắc điều mất mát. Những bài hài cú thăng hoa không chỉ diễn tả sự đến đi của xuân nhưng vượt lên trên sự đến/đi, có/không để nhắm đến chân lý hàm ngụ phía sau. Thơ tạo khí hậu an nhiên khi kể chuyện nở/tàn như sự chuyển biến của dòng sống luân lưu không ngừng, cái mất đi mở đường sinh hóa cho cái khác tồn tại. Điểm đỉnh là sự hồn nhiên vô hạn, vượt lên trên mọi ràng buộc, bình yên khi ngắm hoa bung, thản nhiên khi chứng kiến hoa mất. Basho vào cảnh giới ấy khi ông viết,
         
toshi doshi ya / sakura o koyasu / hana no chiri.
         
Year after year,
 falling blossoms
nourish the cherry tree.
(Basho)
         
Năm tháng trôi tuế nguyệt bào,
hoa phôi pha
tụ cội đào luân sinh. (*)
         
Những mùa xuân đi qua, những bài hài cú ở lại, những hạt sỏi trắng lóng lánh bắt gặp đâu đó ở tuổi thơ, những chùm hoa dại khiêm nhường hé cánh vệ đường, lời hát Phạm Duy không dưng trở về gõ những nốt trầm, “Làm sao mà quên được / Đời qua vút như tên / Dăm ba hạnh phúc ngắn / Sao quên được mà quên... Người hay cười e thẹn / Miệng như trái mơ ngon / Đôi môi màu sắc pháo / Thơm như là quê hương...” Không trách Buson đăm chiêu khi mùa xuân “ấy” đi qua, “ấy” sẽ về đâu bây giờ?
         
arukiaruki monoomou haruno yukuekana
         
With pensive steps
I muse over
Spring's whereabouts.
(Buson)
         
Trầm ngâm bước
 tư lự tôi
 mùa xuân đi một tiếng hồi vô tăm. (*)
         
 
Vũ Hoàng Thư
 
(*) Vũ Hoàng Thư phỏng dịch haiku từ Anh ngữ. Các bài haiku trên đây được trích từ https://www.masterpiece-of-japanese-culture.com
  

Trước hết, tôi xin trình bày lý do tại sao chúng ta tổ chức tưởng niệm 50 năm thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày hôm nay, trong khi một số tài liệu, dựa theo Wikipedia, đã nói rằng ông qua đời ngày 6 tháng 9 năm 1976. Nếu đọc bài “Gặp bà Thục Oanh, nhớ thi tài Vũ Hoàng Chương” của nhà văn Hoàng Quốc Hải, một nhà văn và biên khảo rất được tín nhiệm ở trong nước, in trong cuốn Trắng Án Nguyễn Thị Lộ, rồi in lại trong cuốn Kẻ Sĩ Trước Thời Cuộc, thì chúng ta thấy rằng bà Thục Oanh, tức bà Vũ Hoàng Chương, cho ông biết là thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn 1976, trước Trung Thu một ngày. Bà Thục Oanh nhớ ngày giỗ theo âm lịch, và “trước Trung Thu một ngày” là một ngày dễ nhớ. Một nhà thơ có tình thân với ông bà VHC ở trong nước, nữ sĩ Hoàng Hương Trang, cũng làm thơ tưởng niệm thi sĩ VHC vào ngày 14 tháng 8 âm lịch. Tại Nam California này có ít nhất 2 người quý trọng nhà thơ Vũ Hoàng Chương, hàng năm vẫn ghi nhớ ngày giỗ
Nhưng xúc động nhất có lẽ không chỉ nằm trong câu chuyện Kinh Kha. Nó nằm ngay trên sân khấu, nơi hội tụ ba thế hệ: lời thơ Vũ Hoàng Chương; tiếng ngâm Kiều Loan, người đã từng được ông trực tiếp chỉ dạy; và tiếng đàn tiếng sáo của Liên Tâm, Kim Sơn, lớp con cháu rất trẻ hôm nay. Một bài thơ viết từ hơn nửa thế kỷ trước, qua ba thế hệ, vẫn còn nguyên tiếng ngân.
(Việt Báo: Buổi ra mắt sách TỔ QUỐC TRĂM NĂM, Hồi Ký Tiểu Thuyết của Lê Lạc Giao, đã thực hiện chiều Thứ Bảy 19/9/2026 tại Coffee Factory, Westminster. Với MC ThụyVy. Các ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng). Các diễn giả Phạm Quốc Bảo, Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải.)
Tháng Sáu, năm mươi mốt năm trước, bắt đầu bằng một lời hứa ba mươi ngày của Ủy ban Quân Quản TP Sài Gòn. Ba mươi ngày để học tập, để rồi ba mươi ngày trôi qua, tháng nối tháng, năm chồng lên năm của tù đày cải tạo, và có những người đã không bao giờ trở về. Mùa hạ năm ấy, chiến tranh được tuyên bố là đã chấm dứt, nhưng đối với hàng trăm ngàn quân cán chính miền Nam, một cuộc chiến khác vừa mở ra
“Cách tưởng nhớ có ý nghĩa nhất đến người thân yêu mới lìa đời là hãy sống tiếp, hãy đi tiếp con đường người ấy đang đi để thấy người mình thương yêu vẫn luôn ở bên mình, vẫn chưa bao giờ rời xa mình. Tôi tin là anh ấy cũng muốn thế ở chị.” Tôi nhớ là đã nói như thế với chị Kim, người bạn đời của anh Cung Tích Biền, tối hôm qua. Tôi nghĩ nói những lời ấy tốt hơn là nói lời chia buồn, an ủi hay động viên tinh thần nào. Thế nhưng, sau lúc chuyện trò với chị, tôi thấy những lời ấy cũng là thừa. Chị mạnh mẽ hơn tôi tưởng. Chị biết mình phải làm những gì. Ngày ngày, chị chăm lo cho anh từng miếng ăn, giấc ngủ và cả sức khỏe nữa. Chị cùng anh tham gia những buổi tập tành vận động và bơi lội để duy trì thể lực. Chị đồng hành cùng anh trong mọi chuyến đi xa gần, trong những lần họp mặt bạn hữu, trong mọi việc anh yêu thích và trong những dự án anh rắp tâm thực hiện.
Nhà Văn Cung Tích Biền đã qua đời vào 12:25 pm ngày 9 tháng 9 năm 2026 tại Orange County, California, Hoa Kỳ. Hương Thọ 91 tuổi. Tang lễ được tổ chức tại Peek Funeral Home, thành phố Wetsmnister, vào Thứ Hai, 28 tháng 9 năm 2026. Trước năm 1975 nhà văn Cung Tích Biền đã nổi tiếng với các tác phẩm Ai Tỉnh Ai Điên (Trí Dũng, 1969). Nỗi Buồn Thắp Sáng (Trí Dũng, 1969). Nàng Tình Rỗng (Trí Dũng, 1970). Trên Ngọn Lửa (Hoàng Đông Phương, 1971). Cõi Ngoài (Kỷ Nguyên, 1970). Bạch Hóa (Sóng, 1974) và các tuyển tập với các nhà văn…
Đào Nguyên Dạ Thảo / Ly Ly Đào, sinh năm 1965 tại Đà Lạt. Lớn lên cùng gia đình ở Đà Lạt . Cô đến Mỹ sau nhiều lần tìm cách vượt biển và vượt biên bằng đường bộ. Năm 16 tuổi, cô thực hiện chuyến vượt biển đầu tiên nhưng không thành và bị bắt giam một năm. Sau khi được thả, cô theo học Trường Mỹ thuật Sài Gòn từ năm 1984 đến 1987. Nhưng ý nghĩ tìm cách rời khỏi một đất nước nhân quyền bị chà đạp và đói khổ vẫn chưa bao giờ rời khỏi cô. Trong thời gian học Mỹ thuật, cùng một nhóm bạn, cô di chuyển đến Châu Đốc, nằm ém gần biên giới rồi vượt biên bằng đường bộ sang Campuchia vào ban đêm. Từ đó, cả nhóm tiếp tục hành trình đến Thái Lan bằng một chiếc thuyền nhỏ.
Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.