Hôm nay,  

Trang Thơ Thứ Bẩy

29/04/202314:27:00(Xem: 2987)
1- Ann Phong An Advice 36x60. 2008
Tranh Ann Phong.



TRẦN YÊN HÒA

 

Mẹ Khổ Tôi Xưa

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.
(Ca dao)

Mẹ tôi xưa quê sao là quê
Già ơi là già
Mới tuổi bốn mươi mà da mẹ đã nhăn
Mặt mẹ đã đầy tàn nhang lấm tấm
Ngực không còn căng
Vú không còn sữa

Mẹ ra đồng tát nước
Làm cỏ ruộng sâu
Cày bừa ruộng cạn
Chân trần khô hạn
Suốt đời không phút nghỉ ngơi
Mẹ nuôi heo, nuôi tằm
Mẹ bắt ốc mò cua

Mẹ bán thuốc rê chợ mai
Mẹ bán trà đá chợ chiều
Mẹ ngồi bệt dưới đất
Trải bên đường tấm nhựa ni lông
Mời ông đi qua
Mời bà đi lại

Dáng mẹ liêu xiêu
Trong bóng chiều nhập nhoạng

Ngày chiến tranh
Mẹ theo cha tản cư
(Ơi những người mẹ trong chiến tranh
Ở một vùng xôi đậu)

Bên nào cũng đầy quyền uy
Đầy súng đạn
Đầy mã tấu dao găm
Chực chờ đâm chém
Băm vằm nhau ra từng mảnh
Dù không biết mặt nhau
Không hận thù

Chiến tranh ác độc
Lùa mẹ từ quê xuống tỉnh
Mẹ không còn một tấc đất trong tay
Mẹ quay quắt sống
Kham khổ sống
Trong khu nhà tranh rách nát
Đọa đày

Mẹ buôn gánh bán bưng
Kiếm từng đồng bạc cắc
Mẹ như con gà mái xòe cánh ra
Che chở cho con
Khi gặp diều hâu đáp xuống

Diều hâu
Là súng đạn
Là bom napal
Là mìn nổ chậm
Là hỏa tiễn
Là tiểu liên AK
Là M16
Là mìn Clamore
Là chực chờ giết chết
Những người dân
(Ơi những người dân quê khốn khổ)

Da mẹ sần khô đen cháy
Ốm như que tăm
Dáng đi lúc nào cũng như chạy
Lúp xúp

Lúp xúp trên đường đê
Lúp xúp trên cầu gò ông Đốc
Lúp xúp trên đập Lạnh, đập Trà Thai
Lúp xúp trên đường ra ruộng gò Duối

Mẹ đi mà như chạy
Lúp xúp
Như cuộc đời mẹ
Không mỏi mệt
Không nản chân bon



Mẹ chạy đông chạy tây
Chạy nam chạy bắc
Chạy suốt đời
Chỉ lo một việc
Nuôi con

Mẹ tôi là vậy
Suốt một đời
Cặm cụi
Cặm cụi
Cho con

Ngồi buồn nhớ mẹ
Nhớ rơi nước mắt
Nhớ đến não lòng
Nhớ quay nhớ quắt
Mẹ ời, mẹ ơi!

 

– Trần Yên Hòa

 

*

 

THY AN

 

Cầu vồng tháng tư

(Tặng Trủy Thủ)

 

nhìn cầu vồng bên núi xanh

không gian ôm nỗi niềm xao xuyến

nói thầm giấc mơ vừa thức dậy

chiều nay lộng gió

hớp miếng trà gừng cay

sẽ không mồi điếu thuốc

chỉ mồi hương tình yêu vừa nhú trong lòng

 

tháng tư trời không còn đen xám

cơn bão trái mùa lung lay rừng cây

đe dọa chuyến hành hương

của những người đàn bà trên núi

cố gieo hạt mầm vào trái tim mỏi mệt

đám mây phiêu lãng đem về phế tích

nỗi buồn rơi theo trọng trường

theo năm tháng nặng thân

 

tháng tư rêu phong phủ đền đài

hơi thở phập phồng phế tàn thành quách

những thanh âm vụn vặt trôi theo dòng sông

buổi chiều che ngang tầm mắt

dõi trông những bóng hình chưa khuất

bốc khói ly cà phê đen

một tia nhìn lung lạc vu vơ

 

hãy chọn con đường ngắn nhất

đưa trái tim về nơi kỷ niệm

thành phố đầy những dửng dưng

con chim đứng tháp chuông không nói

chú tiểu gõ chuông đồng lặng lẽ

đêm ngày rộng lượng bao nhiêu cho đủ

để tình yêu khắc phục hận thù

cài lên khuy áo đóa hướng dương

giữ cho nhau hơi lửa truyền tay ấm mãi

 

mật ngôn gửi theo cầu vồng

nối liền bao nhiêu năm ánh sáng

hai trái tim tình nhân êm ả

giọt rượu hồng run tay thấm áo

làm thơm đêm dạ lan đâu đó

gửi những người tóc bạc hẹn hò

trăm năm chưa một lần gặp mặt

phù du…

 

– thy an

Có những cái chết chỉ xảy ra một lần, nhưng cũng có những cái chết mà người ta còn phải giết thêm nhiều lần nữa, bằng những lời giải thích, những bản tường trình, cho đến khi người chứng kiến không còn dám tin vào chính mắt mình. Viên đạn chấm dứt một đời người trong khoảnh khắc, nhưng ngôn ngữ của quyền lực có thể kéo dài cái chết ấy, biến nạn nhân thành thủ phạm, biến kẻ sát nhân thành người bị đe dọa, và sau cùng, biến sự thật thành điều mà người ta được lệnh phải nghi ngờ. Từ những trang văn của Vernon Lee cuối thế kỷ XIX đến những gì đang diễn ra trên nước Mỹ hôm nay, quyền lực không chỉ tìm cách tước đoạt sinh mạng con người mà còn muốn chiếm đoạt cả quyền diễn giải sự thật.
Cậu bé đứng trước bức Người Gánh Nước Ban Chiều hỏi mẹ: “Vì sao người trong tranh không có mặt?” “Chắc họa sĩ quên vẽ,” mẹ đáp, nửa đùa nửa bối rối. Trong giây phút ấy, cậu đã làm điều mà hầu hết người lớn trong phòng triển lãm quên mất: dừng lại. Không vì ai nói. Không vì chụp ảnh. Chỉ vì tò mò thuần khiết trước một khoảng trống, mặt chưa-được-vẽ, khiến trí tưởng tượng bắt đầu chuyển động. Immanuel Kant gọi đó là khởi đầu của phán đoán thẩm mỹ: khi ta nhìn mà không cần chiếm hữu, khi ta hỏi mà không đòi câu trả lời. Trong Critique of Judgment (1790), ông viết, cái đẹp xuất phát từ trạng thái đặc biệt của tâm trí, khi tưởng tượng và hiểu biết cùng chơi đùa tự do, không bị ép buộc bởi khái niệm hay lợi ích nào. Quanh cậu bé, đám đông đang vội. Điện thoại giơ lên, hạ xuống. Một bà áo dài tím nhìn bức Cánh Đồng Lúa Sau Cơn Mưa, thở dài: “Buồn quá.”Chàng sinh viên cạnh đó đáp: “Buồn đâu, bà nhìn mấy mảng màu, nó đang cười đấy!” Không ai sai.
Trước hết, tôi xin trình bày lý do tại sao chúng ta tổ chức tưởng niệm 50 năm thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày hôm nay, trong khi một số tài liệu, dựa theo Wikipedia, đã nói rằng ông qua đời ngày 6 tháng 9 năm 1976. Nếu đọc bài “Gặp bà Thục Oanh, nhớ thi tài Vũ Hoàng Chương” của nhà văn Hoàng Quốc Hải, một nhà văn và biên khảo rất được tín nhiệm ở trong nước, in trong cuốn Trắng Án Nguyễn Thị Lộ, rồi in lại trong cuốn Kẻ Sĩ Trước Thời Cuộc, thì chúng ta thấy rằng bà Thục Oanh, tức bà Vũ Hoàng Chương, cho ông biết là thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn 1976, trước Trung Thu một ngày. Bà Thục Oanh nhớ ngày giỗ theo âm lịch, và “trước Trung Thu một ngày” là một ngày dễ nhớ. Một nhà thơ có tình thân với ông bà VHC ở trong nước, nữ sĩ Hoàng Hương Trang, cũng làm thơ tưởng niệm thi sĩ VHC vào ngày 14 tháng 8 âm lịch. Tại Nam California này có ít nhất 2 người quý trọng nhà thơ Vũ Hoàng Chương, hàng năm vẫn ghi nhớ ngày giỗ
Nhưng xúc động nhất có lẽ không chỉ nằm trong câu chuyện Kinh Kha. Nó nằm ngay trên sân khấu, nơi hội tụ ba thế hệ: lời thơ Vũ Hoàng Chương; tiếng ngâm Kiều Loan, người đã từng được ông trực tiếp chỉ dạy; và tiếng đàn tiếng sáo của Liên Tâm, Kim Sơn, lớp con cháu rất trẻ hôm nay. Một bài thơ viết từ hơn nửa thế kỷ trước, qua ba thế hệ, vẫn còn nguyên tiếng ngân.
(Việt Báo: Buổi ra mắt sách TỔ QUỐC TRĂM NĂM, Hồi Ký Tiểu Thuyết của Lê Lạc Giao, đã thực hiện chiều Thứ Bảy 19/9/2026 tại Coffee Factory, Westminster. Với MC ThụyVy. Các ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng). Các diễn giả Phạm Quốc Bảo, Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải.)
Tháng Sáu, năm mươi mốt năm trước, bắt đầu bằng một lời hứa ba mươi ngày của Ủy ban Quân Quản TP Sài Gòn. Ba mươi ngày để học tập, để rồi ba mươi ngày trôi qua, tháng nối tháng, năm chồng lên năm của tù đày cải tạo, và có những người đã không bao giờ trở về. Mùa hạ năm ấy, chiến tranh được tuyên bố là đã chấm dứt, nhưng đối với hàng trăm ngàn quân cán chính miền Nam, một cuộc chiến khác vừa mở ra
“Cách tưởng nhớ có ý nghĩa nhất đến người thân yêu mới lìa đời là hãy sống tiếp, hãy đi tiếp con đường người ấy đang đi để thấy người mình thương yêu vẫn luôn ở bên mình, vẫn chưa bao giờ rời xa mình. Tôi tin là anh ấy cũng muốn thế ở chị.” Tôi nhớ là đã nói như thế với chị Kim, người bạn đời của anh Cung Tích Biền, tối hôm qua. Tôi nghĩ nói những lời ấy tốt hơn là nói lời chia buồn, an ủi hay động viên tinh thần nào. Thế nhưng, sau lúc chuyện trò với chị, tôi thấy những lời ấy cũng là thừa. Chị mạnh mẽ hơn tôi tưởng. Chị biết mình phải làm những gì. Ngày ngày, chị chăm lo cho anh từng miếng ăn, giấc ngủ và cả sức khỏe nữa. Chị cùng anh tham gia những buổi tập tành vận động và bơi lội để duy trì thể lực. Chị đồng hành cùng anh trong mọi chuyến đi xa gần, trong những lần họp mặt bạn hữu, trong mọi việc anh yêu thích và trong những dự án anh rắp tâm thực hiện.
Nhà Văn Cung Tích Biền đã qua đời vào 12:25 pm ngày 9 tháng 9 năm 2026 tại Orange County, California, Hoa Kỳ. Hương Thọ 91 tuổi. Tang lễ được tổ chức tại Peek Funeral Home, thành phố Wetsmnister, vào Thứ Hai, 28 tháng 9 năm 2026. Trước năm 1975 nhà văn Cung Tích Biền đã nổi tiếng với các tác phẩm Ai Tỉnh Ai Điên (Trí Dũng, 1969). Nỗi Buồn Thắp Sáng (Trí Dũng, 1969). Nàng Tình Rỗng (Trí Dũng, 1970). Trên Ngọn Lửa (Hoàng Đông Phương, 1971). Cõi Ngoài (Kỷ Nguyên, 1970). Bạch Hóa (Sóng, 1974) và các tuyển tập với các nhà văn…
Đào Nguyên Dạ Thảo / Ly Ly Đào, sinh năm 1965 tại Đà Lạt. Lớn lên cùng gia đình ở Đà Lạt . Cô đến Mỹ sau nhiều lần tìm cách vượt biển và vượt biên bằng đường bộ. Năm 16 tuổi, cô thực hiện chuyến vượt biển đầu tiên nhưng không thành và bị bắt giam một năm. Sau khi được thả, cô theo học Trường Mỹ thuật Sài Gòn từ năm 1984 đến 1987. Nhưng ý nghĩ tìm cách rời khỏi một đất nước nhân quyền bị chà đạp và đói khổ vẫn chưa bao giờ rời khỏi cô. Trong thời gian học Mỹ thuật, cùng một nhóm bạn, cô di chuyển đến Châu Đốc, nằm ém gần biên giới rồi vượt biên bằng đường bộ sang Campuchia vào ban đêm. Từ đó, cả nhóm tiếp tục hành trình đến Thái Lan bằng một chiếc thuyền nhỏ.
Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.