Hôm nay,  

Cầu mưa ướt áo

07/12/202317:39:00(Xem: 4020)
Truyện

cau mua

Đã hơn cả tuần nay, chiều nào mây cũng giăng xám một góc trời. Mưa không lớn chỉ lất phất bay, đủ ướt phủ mặt đường. Những hình ảnh chập chùng, bao kỷ niệm hiện về lẫn lộn. Khi nhớ khi quên. Có lúc khuôn mặt rõ từng sợi chân mày, từng vết hằn môi ướt. Rồi có lúc chợt thoáng mất, hun hút như chưa lần gặp gỡ trong ký ức. Càng cố gắng bao nhiêu, trí nhớ càng nhạt nhòa tan biến. Đã hết tuổi đời, đã mòn năm tháng? Hay cũng chỉ là dòng trôi tự nhiên của thời gian xuyên qua một đời người thoáng chốc.
    Chừng như tin vui dần ít đi, thay vào đó là những chia xa không tránh khỏi. Điều gì đến phải đến, như bao nhiêu nối tiếp trong chuổi vô cùng của cuộc nhân sinh. Người viết thưa dần và người đọc cũng không còn nhiều nữa. Tay đã mỏi, mắt đã mờ. Khoảng cách thời gian chợt vời vợi, vô cùng. Nhưng khoảng cách không phải là thước đo của tình người. Lại càng không phải thước đo ký ức và dáng hình của kỷ niệm. Chừng như những ngày mưa trong tiềm thức đáng nhớ hơn bao ngày nắng đẹp. Có lẽ mưa luôn mang theo những tiếng động, những âm thanh khua vào nỗi nhớ. Có cơn mưa báo trước và có những cơn mưa bất chợt, tình cờ. Cuộc sống, phải chăng là sự kết hợp nhiệm mầu của những cơn mưa bất chợt, tình cờ không báo trước. Cho tôi và cả cho người...
 
***
                       
Nằm trong con hẻm trên đường Phan Đình Phùng, phía đối diện là chợ Vườn Chuối. Con ngõ vào thật hẹp, chỉ vừa đủ hai chiếc xe gắn máy nhường lách nhau để qua mặt. Tiếng lao xao vọng ra từ những căn nhà thấp chừng như đang chuẩn bị cho buổi ăn chiều. Như bao nhiêu khu lao động khác, càng đi sâu vào con hẻm thì mặt đường nhỏ hẹp hơn. Phía trước cửa nhà này có thể nhìn thấy sinh hoạt bên trong cửa nhà kia. Tôi nhìn lại số nhà ghi trong miếng giấy nhỏ lần nữa, đúng là con hẻm này nhưng vẫn chưa thấy. Con số nhà đến ba lần xuyệt, lại phải rẽ vào một con hẻm nhỏ khác. Cuối cùng tôi cũng đứng trước căn nhà đúng theo số ghi trong miếng giấy nhỏ. Chiếc cổng thấp bạc màu ngăn bên trong cánh cửa gỗ màu xanh khép hờ. Tôi gỏ mạnh vào cánh cửa gỗ hé mở màu xanh nhạt, loang vết nắng mưa. Có hẹn trước nên không phải đợi lâu,  Nhàn đã hiện ra với nụ cười làm sáng khung cửa hẹp. Trong chiếc áo cổ tròn màu xám viền cũ sờn bâu Nhàn có chút gượng ngùng mời tôi vào nhà. Căn nhà nhỏ đầy ấp, ngổn ngang với những chiếc thúng đựng từng gói bún, bánh canh, giò heo, rau thơm đủ loại... đầy cả một góc bàn.
    – Chắc là anh kiếm nhà Nhàn hết cả buổi?
    – Mờ mắt luôn, nhưng cũng chỉ mất hơn năm, mười phút thôi!
    Nhàn kéo chiếc ghế thấp, vừa cười nhẹ:
    – Anh ngồi tạm, nhà chật bề bộn quá...
    Khó có thể tưởng tượng đây là cuộc sống của Nhàn, Trần Thanh Nhàn cô sinh viên năm thứ ba, người đẹp của khoa sử địa sư phạm Sài Gòn. Trong ban tổ chức đêm văn nghệ liên hoan cuối năm, Nhàn phụ trách phần sắp xếp và điều khiển chương trình cho cả hai trường đại học sư phạm - khoa học Sài Gòn kết hợp. Biết mình đẹp, kiêu kỳ có chút lạnh lùng nên bề ngoài khó ai gần gũi và Nhàn cũng không muốn gần gũi ai! Suốt thời gian tập dợt, sắp đặt chương trình tôi cũng không mấy bận tâm đến cô gái đẹp khó ưa này. Vậy mà vài tuần lễ sau tôi và Nhàn lại có dịp gần, quen thân nhau. Có lẽ thấy bản mặt khờ khạo, biết thân biết phận của tôi nên Nhàn cho qua ải "trai gái" thường tình. Có vài lần tập trễ Nhàn "có giang" tôi đưa về. Cũng tiện đường, Nhàn ở Vườn Chuối tôi ở Bàn Cờ cùng con đường Phan Đình Phùng. Tôi và Nhàn quen nhau từ đó.
    Trong bạn bè thân quen, rất ít người được Nhàn cho đến nhà. Có lẽ vì mặc cảm? Có lẽ vì Nhàn chưa muốn để tình bạn đi xa hơn trong cuộc sống? Cũng có thể không có lý do gì, mà đó chỉ là Nhàn? Tôi không biết chắc và cũng chẳng bận tâm. Nhàn đã hẹn và cho tôi địa chỉ nhà nàng, để ghé đến hôm nay.
    – Anh giúp Nhàn một tay đi! Nhàn vừa nói vừa chỉ tay vào thúng giò thịt heo đầy ấp. Bước vào trong là chiếc tủ thờ với bức ảnh người sĩ quan có khuôn mặt cương nghị, tôi đoán đó là cha Nhàn. Đôi ba lần nàng nói đến cha, người sĩ quan binh chủng thiết giáp đã hy sinh hơn mười năm trước đây. Mẹ Nhàn ở vậy, nuôi dưỡng mấy chị em bằng quán bún rêu, bánh canh bên hông chợ Vườn Chuối, quận 3... Phía cuối căn nhà là khoảng sân hẹp với chiếc nồi lớn đang nấu lửa than. Buổi trưa trời nóng lại càng nóng thêm hừng hực. Tiếng nước sôi lớn vang lên từ hai chiếc nồi lớn, đầy lửa than. Tôi giúp Nhàn cho từng thúng thịt và giò heo vào nồi nước đang sôi. Như hai con người, như hai cuộc đời phải đốt quyện vào nhau để thành cuộc sống thật.
    – Nóng lắm, anh vào trong kia  cho mát, để em. Nhàn đẩy tôi vào phía trong hiên nhà. Khoảng sân hẹp như lò lửa. Đây là cuộc sống thật của Nhàn. Không trách gì thái độ thờ ơ lạnh nhạt của Nhàn đối với cuộc sống, tình đời chung quanh. Không ai chọn cho mình số phận, bởi số phận đã là mỗi phần đời dành sẵn cho ta?  Cứ vậy mà sống, mà nối kết những hoàn cảnh hết một kiếp người..? Đứng lặng nhìn Nhàn loay xoay với bếp than hồng rực lửa, tôi nghe lòng quặn thắt nỗi buồn thương.
    – Anh sao vậy? Tiếng của Nhàn khiến tôi giật mình, ý thức cảnh vật nhạt nhòa giữa buổi xế trưa.
    – Khói than vừa nóng vừa cay mắt... Đang ấp úng, thì vài ngón tay của nàng đã chùi dòng nước lưng tròng trong mắt tôi.  
    – Đàn ông con trai gì mà "mít ướt" quá! Giọng nói, hơi thở của Nhàn thật gần, thật gần đủ để tôi cảm nhận được bờ môi con gái thắm đậm quanh đây... Nụ hôn thoáng chốc, tình cờ. Tôi muốn nói với Nhàn điều gì đó, nhưng lại thôi. Có cần thiết hay không? Hay cũng chỉ là thứ ngôn ngữ dư thừa, bất lực trước những mảnh vỡ của đời sống? Dưng không tôi chợt thèm một cơn mưa. Trong nỗi thiết tha, ngần ngại tôi khẩn cầu trời đổ một cơn mưa. Cơn mưa thắm ướt mắt tôi những dòng hạt mặn. Cơn mưa thấm ướt áo em, thấm ướt tóc em cho dài nhung nhớ. Đâu đây có tiếng hát ai như ru khoảng không gian của tôi, của Nhàn:  

"Này em đã khóc trời mưa nín câm,
Còn gì nữa đâu sương mù đã lâu
Em đi về cầu mưa ướt áo
Đường phượng bay mù không lối vào, hàng cây lá xanh gần với nhau..." (1)
 
Khóa học chính trị của đại học sư phạm đã bắt đầu hai tuần, nhưng vẫn chưa thấy Nhàn tham dự. Theo thông báo trường, sinh viên không "đăng ký" khóa học này sẽ bị xóa tên trong danh sách đào tạo của trường. Rất nhiều sinh viên vắng mặt vì nhiều lý do khác nhau. Đã di tản ra khỏi Việt Nam, bỏ học trở  về quê sinh sống, gia đình không còn đủ điều kiện tiếp tục việc học, v.v... Không khí bát nháo, bẩn bựa tràn ngập trong mọi sinh hoạt tại các trường đại học Sài Gòn sau ngày 30 tháng 4, 1975. Chính quyền mới đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Kể cả tên nhiều con đường quen thuộc cũng mang một tên mới, nhiều lúc thật xa lạ. Đường Phan Đình Phùng thuộc quận 3, nơi tôi ở trọ và nhà của Nhàn, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu. Không đành lòng hơn nữa, tôi cố tình ghé lại nhà Nhàn trong con hẽm nhỏ. Vẫn chật hẹp, quanh co nhưng nay yên vắng hơn nhiều. Cánh cửa khép kín và không còn mùi bếp lửa, mùi thơm của bột gạo bay ra. Gõ cửa, là người đàn ông xa lạ trả lời. Hỏi nhanh, mới biết gia đình Nhàn đã dọn về quê ngoại ở Bến Tre. Chỉ biết có vậy... Số phận con người quá nhỏ nhoi với thời cuộc. Cuộc sống không còn có lựa chọn nào khác hơn là sự chấp nhận và phải sống. Nhiều ngày tôi bó gối trên căn gác chật hẹp, nghe "đạo ca" của Phạm Duy để buông thả, không nghĩ ngợi gì với chung quanh. Nhưng tất cả đều là tạm bợ. Cuộc sống thật đang từng giây từng phút xô đẩy con người vào vòng xoáy chung quanh. Những ngày trống rỗng này, tôi chợt nhớ Nhàn vô cùng... Buổi chiều cuối tháng Năm trời hanh nắng gắt rồi chợt ào cơn mưa bất chợt. Tôi nghe lòng thoáng buồn, nuối tiếc bâng quơ.       
 
***
 
Thời gian chảy "đá mòn sông núi lở", cuốn trôi bao số phận đời người. Kỷ niệm như những cụm lục bình trôi mênh mông trên dòng sông ký ức. Có cụm nở hoa, có cụm chỉ đơm chồi xanh bóng nước. Hoa lục bình màu tím, hoa kỷ niệm không sắc màu năm tháng. Đời sống lặng lẽ xuôi theo số phận đến cuối cuộc trăm năm. Hạnh phúc khổ đau, may mắn hay bất hạnh vẫn là hai mặt làm nên đời sống. Nhưng điều đáng sợ hơn mọi bất hạnh, khổ đau là sự hờ hững, dững dưng giữa cuộc hệ lụy đời thường. Kiếp người như dòng sông chảy xuôi, mãi mãi không bao giờ trở lại nơi xuất phát. Đôi khi tình yêu không là cuộc tình, mà chỉ là một dấu môi xưa... Những ngày cuối năm có nhiều bất chợt cơn mưa chiều. Những cơn mưa lạnh và buồn. Những cơn mưa bay qua cuộc đời, tình cờ không để lại nỗi niềm cho mùa mưa sắp tới. Không gian vận chuyển tuần hoàn, sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có lòng người thắm đọng. Con hẽm nhỏ ngày xưa không còn nữa. Đã phôi phai với thời gian, với những dãy phố cao che khuất mặt người. Có lần tôi đã trở về, đứng tần ngần cố tìm quanh quẩn bóng dáng của người năm cũ. Cuộc sống vẫn cuộn trôi, dòng người vẫn còn đó. Chỉ có thời gian là biền biệt không về. Một lần đối mặt thân quen và cả đời không gặp lại. Thôi thì mỗi số phận con người đành gửi theo từng lựa chọn. Mà có lựa chọn nào mà không mất mát bao giờ? Để nhiều lúc hay cả một đời người ta không có lựa chọn nào, ngoài sự chấp nhập. Để sống, để xuôi hết một kiếp người. Một lời chưa kịp nói, xin mãi giữ lại cho kiếp mai này.
 
"Chỉ hai đứa mình thôi nhé
Đừng cho trăng nép sau hè
Chỉ hai đứa mình thôi nhé
Đừng cho hoa nắng phai màu
Hai đứa mến nhau
Mối tình tha thiết trao nhau
Hẹn đến ngày bạc mái đầu... "  (2) 
 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

(1) Mưa Hồng – Trịnh Công Sơn

(2) Chỉ Hai Đứa Mình Thôi Nhé! – Anh Bằng & Lê Dinh

 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.