Hôm nay,  

Cầu mưa ướt áo

07/12/202317:39:00(Xem: 3817)
Truyện

cau mua

Đã hơn cả tuần nay, chiều nào mây cũng giăng xám một góc trời. Mưa không lớn chỉ lất phất bay, đủ ướt phủ mặt đường. Những hình ảnh chập chùng, bao kỷ niệm hiện về lẫn lộn. Khi nhớ khi quên. Có lúc khuôn mặt rõ từng sợi chân mày, từng vết hằn môi ướt. Rồi có lúc chợt thoáng mất, hun hút như chưa lần gặp gỡ trong ký ức. Càng cố gắng bao nhiêu, trí nhớ càng nhạt nhòa tan biến. Đã hết tuổi đời, đã mòn năm tháng? Hay cũng chỉ là dòng trôi tự nhiên của thời gian xuyên qua một đời người thoáng chốc.
    Chừng như tin vui dần ít đi, thay vào đó là những chia xa không tránh khỏi. Điều gì đến phải đến, như bao nhiêu nối tiếp trong chuổi vô cùng của cuộc nhân sinh. Người viết thưa dần và người đọc cũng không còn nhiều nữa. Tay đã mỏi, mắt đã mờ. Khoảng cách thời gian chợt vời vợi, vô cùng. Nhưng khoảng cách không phải là thước đo của tình người. Lại càng không phải thước đo ký ức và dáng hình của kỷ niệm. Chừng như những ngày mưa trong tiềm thức đáng nhớ hơn bao ngày nắng đẹp. Có lẽ mưa luôn mang theo những tiếng động, những âm thanh khua vào nỗi nhớ. Có cơn mưa báo trước và có những cơn mưa bất chợt, tình cờ. Cuộc sống, phải chăng là sự kết hợp nhiệm mầu của những cơn mưa bất chợt, tình cờ không báo trước. Cho tôi và cả cho người...
 
***
                       
Nằm trong con hẻm trên đường Phan Đình Phùng, phía đối diện là chợ Vườn Chuối. Con ngõ vào thật hẹp, chỉ vừa đủ hai chiếc xe gắn máy nhường lách nhau để qua mặt. Tiếng lao xao vọng ra từ những căn nhà thấp chừng như đang chuẩn bị cho buổi ăn chiều. Như bao nhiêu khu lao động khác, càng đi sâu vào con hẻm thì mặt đường nhỏ hẹp hơn. Phía trước cửa nhà này có thể nhìn thấy sinh hoạt bên trong cửa nhà kia. Tôi nhìn lại số nhà ghi trong miếng giấy nhỏ lần nữa, đúng là con hẻm này nhưng vẫn chưa thấy. Con số nhà đến ba lần xuyệt, lại phải rẽ vào một con hẻm nhỏ khác. Cuối cùng tôi cũng đứng trước căn nhà đúng theo số ghi trong miếng giấy nhỏ. Chiếc cổng thấp bạc màu ngăn bên trong cánh cửa gỗ màu xanh khép hờ. Tôi gỏ mạnh vào cánh cửa gỗ hé mở màu xanh nhạt, loang vết nắng mưa. Có hẹn trước nên không phải đợi lâu,  Nhàn đã hiện ra với nụ cười làm sáng khung cửa hẹp. Trong chiếc áo cổ tròn màu xám viền cũ sờn bâu Nhàn có chút gượng ngùng mời tôi vào nhà. Căn nhà nhỏ đầy ấp, ngổn ngang với những chiếc thúng đựng từng gói bún, bánh canh, giò heo, rau thơm đủ loại... đầy cả một góc bàn.
    – Chắc là anh kiếm nhà Nhàn hết cả buổi?
    – Mờ mắt luôn, nhưng cũng chỉ mất hơn năm, mười phút thôi!
    Nhàn kéo chiếc ghế thấp, vừa cười nhẹ:
    – Anh ngồi tạm, nhà chật bề bộn quá...
    Khó có thể tưởng tượng đây là cuộc sống của Nhàn, Trần Thanh Nhàn cô sinh viên năm thứ ba, người đẹp của khoa sử địa sư phạm Sài Gòn. Trong ban tổ chức đêm văn nghệ liên hoan cuối năm, Nhàn phụ trách phần sắp xếp và điều khiển chương trình cho cả hai trường đại học sư phạm - khoa học Sài Gòn kết hợp. Biết mình đẹp, kiêu kỳ có chút lạnh lùng nên bề ngoài khó ai gần gũi và Nhàn cũng không muốn gần gũi ai! Suốt thời gian tập dợt, sắp đặt chương trình tôi cũng không mấy bận tâm đến cô gái đẹp khó ưa này. Vậy mà vài tuần lễ sau tôi và Nhàn lại có dịp gần, quen thân nhau. Có lẽ thấy bản mặt khờ khạo, biết thân biết phận của tôi nên Nhàn cho qua ải "trai gái" thường tình. Có vài lần tập trễ Nhàn "có giang" tôi đưa về. Cũng tiện đường, Nhàn ở Vườn Chuối tôi ở Bàn Cờ cùng con đường Phan Đình Phùng. Tôi và Nhàn quen nhau từ đó.
    Trong bạn bè thân quen, rất ít người được Nhàn cho đến nhà. Có lẽ vì mặc cảm? Có lẽ vì Nhàn chưa muốn để tình bạn đi xa hơn trong cuộc sống? Cũng có thể không có lý do gì, mà đó chỉ là Nhàn? Tôi không biết chắc và cũng chẳng bận tâm. Nhàn đã hẹn và cho tôi địa chỉ nhà nàng, để ghé đến hôm nay.
    – Anh giúp Nhàn một tay đi! Nhàn vừa nói vừa chỉ tay vào thúng giò thịt heo đầy ấp. Bước vào trong là chiếc tủ thờ với bức ảnh người sĩ quan có khuôn mặt cương nghị, tôi đoán đó là cha Nhàn. Đôi ba lần nàng nói đến cha, người sĩ quan binh chủng thiết giáp đã hy sinh hơn mười năm trước đây. Mẹ Nhàn ở vậy, nuôi dưỡng mấy chị em bằng quán bún rêu, bánh canh bên hông chợ Vườn Chuối, quận 3... Phía cuối căn nhà là khoảng sân hẹp với chiếc nồi lớn đang nấu lửa than. Buổi trưa trời nóng lại càng nóng thêm hừng hực. Tiếng nước sôi lớn vang lên từ hai chiếc nồi lớn, đầy lửa than. Tôi giúp Nhàn cho từng thúng thịt và giò heo vào nồi nước đang sôi. Như hai con người, như hai cuộc đời phải đốt quyện vào nhau để thành cuộc sống thật.
    – Nóng lắm, anh vào trong kia  cho mát, để em. Nhàn đẩy tôi vào phía trong hiên nhà. Khoảng sân hẹp như lò lửa. Đây là cuộc sống thật của Nhàn. Không trách gì thái độ thờ ơ lạnh nhạt của Nhàn đối với cuộc sống, tình đời chung quanh. Không ai chọn cho mình số phận, bởi số phận đã là mỗi phần đời dành sẵn cho ta?  Cứ vậy mà sống, mà nối kết những hoàn cảnh hết một kiếp người..? Đứng lặng nhìn Nhàn loay xoay với bếp than hồng rực lửa, tôi nghe lòng quặn thắt nỗi buồn thương.
    – Anh sao vậy? Tiếng của Nhàn khiến tôi giật mình, ý thức cảnh vật nhạt nhòa giữa buổi xế trưa.
    – Khói than vừa nóng vừa cay mắt... Đang ấp úng, thì vài ngón tay của nàng đã chùi dòng nước lưng tròng trong mắt tôi.  
    – Đàn ông con trai gì mà "mít ướt" quá! Giọng nói, hơi thở của Nhàn thật gần, thật gần đủ để tôi cảm nhận được bờ môi con gái thắm đậm quanh đây... Nụ hôn thoáng chốc, tình cờ. Tôi muốn nói với Nhàn điều gì đó, nhưng lại thôi. Có cần thiết hay không? Hay cũng chỉ là thứ ngôn ngữ dư thừa, bất lực trước những mảnh vỡ của đời sống? Dưng không tôi chợt thèm một cơn mưa. Trong nỗi thiết tha, ngần ngại tôi khẩn cầu trời đổ một cơn mưa. Cơn mưa thắm ướt mắt tôi những dòng hạt mặn. Cơn mưa thấm ướt áo em, thấm ướt tóc em cho dài nhung nhớ. Đâu đây có tiếng hát ai như ru khoảng không gian của tôi, của Nhàn:  

"Này em đã khóc trời mưa nín câm,
Còn gì nữa đâu sương mù đã lâu
Em đi về cầu mưa ướt áo
Đường phượng bay mù không lối vào, hàng cây lá xanh gần với nhau..." (1)
 
Khóa học chính trị của đại học sư phạm đã bắt đầu hai tuần, nhưng vẫn chưa thấy Nhàn tham dự. Theo thông báo trường, sinh viên không "đăng ký" khóa học này sẽ bị xóa tên trong danh sách đào tạo của trường. Rất nhiều sinh viên vắng mặt vì nhiều lý do khác nhau. Đã di tản ra khỏi Việt Nam, bỏ học trở  về quê sinh sống, gia đình không còn đủ điều kiện tiếp tục việc học, v.v... Không khí bát nháo, bẩn bựa tràn ngập trong mọi sinh hoạt tại các trường đại học Sài Gòn sau ngày 30 tháng 4, 1975. Chính quyền mới đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Kể cả tên nhiều con đường quen thuộc cũng mang một tên mới, nhiều lúc thật xa lạ. Đường Phan Đình Phùng thuộc quận 3, nơi tôi ở trọ và nhà của Nhàn, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu. Không đành lòng hơn nữa, tôi cố tình ghé lại nhà Nhàn trong con hẽm nhỏ. Vẫn chật hẹp, quanh co nhưng nay yên vắng hơn nhiều. Cánh cửa khép kín và không còn mùi bếp lửa, mùi thơm của bột gạo bay ra. Gõ cửa, là người đàn ông xa lạ trả lời. Hỏi nhanh, mới biết gia đình Nhàn đã dọn về quê ngoại ở Bến Tre. Chỉ biết có vậy... Số phận con người quá nhỏ nhoi với thời cuộc. Cuộc sống không còn có lựa chọn nào khác hơn là sự chấp nhận và phải sống. Nhiều ngày tôi bó gối trên căn gác chật hẹp, nghe "đạo ca" của Phạm Duy để buông thả, không nghĩ ngợi gì với chung quanh. Nhưng tất cả đều là tạm bợ. Cuộc sống thật đang từng giây từng phút xô đẩy con người vào vòng xoáy chung quanh. Những ngày trống rỗng này, tôi chợt nhớ Nhàn vô cùng... Buổi chiều cuối tháng Năm trời hanh nắng gắt rồi chợt ào cơn mưa bất chợt. Tôi nghe lòng thoáng buồn, nuối tiếc bâng quơ.       
 
***
 
Thời gian chảy "đá mòn sông núi lở", cuốn trôi bao số phận đời người. Kỷ niệm như những cụm lục bình trôi mênh mông trên dòng sông ký ức. Có cụm nở hoa, có cụm chỉ đơm chồi xanh bóng nước. Hoa lục bình màu tím, hoa kỷ niệm không sắc màu năm tháng. Đời sống lặng lẽ xuôi theo số phận đến cuối cuộc trăm năm. Hạnh phúc khổ đau, may mắn hay bất hạnh vẫn là hai mặt làm nên đời sống. Nhưng điều đáng sợ hơn mọi bất hạnh, khổ đau là sự hờ hững, dững dưng giữa cuộc hệ lụy đời thường. Kiếp người như dòng sông chảy xuôi, mãi mãi không bao giờ trở lại nơi xuất phát. Đôi khi tình yêu không là cuộc tình, mà chỉ là một dấu môi xưa... Những ngày cuối năm có nhiều bất chợt cơn mưa chiều. Những cơn mưa lạnh và buồn. Những cơn mưa bay qua cuộc đời, tình cờ không để lại nỗi niềm cho mùa mưa sắp tới. Không gian vận chuyển tuần hoàn, sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có lòng người thắm đọng. Con hẽm nhỏ ngày xưa không còn nữa. Đã phôi phai với thời gian, với những dãy phố cao che khuất mặt người. Có lần tôi đã trở về, đứng tần ngần cố tìm quanh quẩn bóng dáng của người năm cũ. Cuộc sống vẫn cuộn trôi, dòng người vẫn còn đó. Chỉ có thời gian là biền biệt không về. Một lần đối mặt thân quen và cả đời không gặp lại. Thôi thì mỗi số phận con người đành gửi theo từng lựa chọn. Mà có lựa chọn nào mà không mất mát bao giờ? Để nhiều lúc hay cả một đời người ta không có lựa chọn nào, ngoài sự chấp nhập. Để sống, để xuôi hết một kiếp người. Một lời chưa kịp nói, xin mãi giữ lại cho kiếp mai này.
 
"Chỉ hai đứa mình thôi nhé
Đừng cho trăng nép sau hè
Chỉ hai đứa mình thôi nhé
Đừng cho hoa nắng phai màu
Hai đứa mến nhau
Mối tình tha thiết trao nhau
Hẹn đến ngày bạc mái đầu... "  (2) 
 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

(1) Mưa Hồng – Trịnh Công Sơn

(2) Chỉ Hai Đứa Mình Thôi Nhé! – Anh Bằng & Lê Dinh

 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.