Hôm nay,  

Ngày Đại Tang của Đất Nước

21/04/202411:57:00(Xem: 5020)
Hồi ký chiến tranh

ARVN 1

“Một năm người có mười hai tháng.
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!”  (Thơ Thanh Nam)

 

Ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tư Tưởng ghé ngang hậu cứ,  dẫn ba thằng em: Bắc Hà, Th/úy Trọng và tui đi nhậu ở quán Thuỷ Tiên, gần Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn ngày xưa, trước khi dời vô Phi trường Vĩnh Long. Đây là quán nhà của Chi Đoàn 3/2 Thiết Kỵ. Quán không tên nhưng có cô con gái của ông chủ quán gốc nhà giáo tên Thủy Tiên. Ba thằng em trước là Sĩ quan Chi Đoàn 3/2 TK, Bắc Hà mới ra từ Quân Lao. Bắc Hà lái xe Jeep đụng chết Tr/úy Pháo Binh đi xe Honda, bị giam quân lao Cần Thơ 5 tháng. Số Bắc Hà xui, mới đầu tui nhờ mấy ông Thượng sĩ điều đình gia đình nạn nhân bãi nại. Thất bại. Quân cảnh Tư Pháp giải Bắc Hà qua Cần Thơ, Chạy tiếp, để Bắc Hà được tại ngoai. Xui, chánh án Trung Tá Ngô Văn Thuyết ghét Thiết giáp. Khi ông Phó chuyển lên với ý kiến thuân, nhưng thấy đơn vị Bắc Hà là Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh  bèn tống giam. Tư Tưởng và Đông Phương đưa tiền cho một luật sư ở Vĩnh Long, về Saigon chạy cho Bắc Hà trắng án, tay Luật sư nầy lấy tiền đánh bạc thua hết. Bắc Hà đành ở quân lao, ra tòa xử 4 tháng tù, Ở quân lao 5 tháng nên được phóng thích ngay tại tòa án. Th/úy Trong, Chi đội phó của Bắc Hà, trước khi về làm Phụ tá Ban 3 Huấn luyện, lãnh nhiệm vụ thăm nuôi hằng tuần, đem quần áo về giặt và tiếp tế những gì Bắc Hà cần. Bắc Hà ở trong quân lao mà mặc đồ ủi hồ. Thấy Bắc Hà đeo lon ở nấp túi áo, bèn hỏi, Bắc Hà cho biết chưa ra tòa nên vẫn còn đeo lon nhưng đeo ở nấp túi. Một lần khác Bắc Hà khoe tụi trong nầy nễ tao lắm. Tui cười ngất. Thân ở tù mà nễ cái gì. Bắc Hà nghiêm sắc mặt, người ta nễ tao vì đơn vị không bỏ tao, đi thăm nuôi mỗi tuần. Tù ở đây không có được đơn vị thăm nuôi, chỉ gia đìnhthăm mà thôi. Đó cũng là tinh thần thương yêu của Điền Đông Phương và Tư Tưởng trong đơn vị.
    Đang vui vẻ nhậu nhẹt nói chuyện ồn ào. Nhắc chuyện ngày trước chiến đấu bên nhau. Đúng ra chỉ có Tư Tưởng và tui cụng ly hào hứng, Bắc Hà uống chút chút và Th/úy Trọng thì Coca Cola, vì bị dị ứng với bia rượu. Đúng là đời kém vui khi không nhậu được. Đang rót tràn ly cạn và cạn ly đầy, TV chiếu cảnh Tổng Thống Thiệu từ chức. Trời đất ơi! Cái gì kỳ vậy cà? Tư Tưởng cũng hơi đã đã bèn cà lăm … “Vậy là mất nước rồi. Tụi mình thua rồi”. (Khi Tư Tưởng cà lăm là biết lúc đó chàng đã rồi ) Bàng hoàng, sửng sốt, nghẹn ngào. Cứ nhắc đi nhắc lại “sao kỳ dzậy cà” Tại sao thua kỳ dzậy cà. Cả đám nước mắt rớt ra. Bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu cực khổ dầm sương dãi nắng, thường xuyên đối diện với tử thần . Bao nhiêu xương máu đã đổ. Chưa thua mà sao kỳ dzậy cả? Tư Tưởng hỏi mất nước rồi làm sao? Ai mà biết làm sao. Chỉ biết gục đầu, Đồ nhậu trên bàn còn đầy, bia còn nhiều chưa rót mà đã nghẹn. Nghẹn từ lời nói, nghẹn cả trong mắt trong môi. Lâu lắm Ngụy tui mới nói nhỏ, như để một mình mình nghe thôi … thì chơi xả láng, chơi cho tới khi hết đồ chơi rồi tính chứ biết sao. Que sera sera … Buồn nãn, chán chường, Tư Tưởng và ba thằng em ra xe Jeep đi về. Xe chạy tới ngã ba Cần Thơ chưa quẹo trái để về hậu cứ, bị Quân Cảnh bắt dừng xe lại. Lúc đó khoảng 12 giờ khuya, đã tới giờ giới nghiêm. Một Trung sĩ Quân Cảnh bước đến chào Tư Tưởng, hỏi sự vụ lệnh. Tư Tưởng chưa kịp trả lời, tự nhiên tui nổi nóng la lớn “ Mất nước tới nơi rồi mà sự vụ lệnh cái gì. Dẹp!” Nói nào ngay Quân Cảnh (QC) ở Tỉnh Vĩnh Long, cũng hơi ngán Thiết Giáp. Tư Tưởng là đơn vị trưởng thì ký cái sự vụ lệnh hay ký phép, dễ còn hơn ăn cơm sườn không có xương. Cũng lấy làm lạ, QC bửa nay sao tận tụy siêng năng quá. Trung sĩ QC chưa phản ứng gì thì từ trong bóng tối một người mặc bà ba đen bước ra nói hết sức nhẹ nhàng  “ Thân, em đi đâu giờ nầy vậy?”
    Lúc đó Tư Tưởng và cả đám tụi tôi đều ngạc nhiên. Tư Tưởng bước xuống xe Jeep đưa tay chào và tui đang đứng trên lề đường cũng chào  tay. Đó là Đại Tá Thành, cựu Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 15/ Sư Đoàn 9 Bộ Bịnh.  Bây giờ là Đại Tá Tỉnh Trưởng Vĩnh Long, Tư Tưởng trả lời: “ Buồn quá dẫn mấy thằng em đi nhậu, thưa Đại Tá “ Quay qua mấy ông QC, Đại Tá Thành nói “ Xin mấy ông QC cho anh em Bạch Mã về nghỉ. Họ đã đổ máu cho chúng tôi nhiều lắm “.
    Mấy ông Quân Cảnh lui vào trong, Tư Tưởng và tụi tui chào Đại Tá Thành một lần nữa, lên xe đi về doanh trại. Buồn, không ai nói năng gì, chỉ nghe tiếng thở dài. Sáng hôm sau Tư Tưởng ra hành quân, chưa kịp cà phê cà pháo với tụi tôi.Tui cũng không hiễu tại sao đi sớm quá. Th/úy Hạnh về chưa có chức vụ gì vẫn cà nhỏng. Vẫn ngủ trong khu Sĩ Quan chúng tôi. Lúc nầy cấm trại tử thủ, theo lênh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đoàn / Quân Khu IV. Sáng cà phê câu lạc bộ, trưa, chiều cơm Thiết Đoàn. Không phố xá phố phường gì cả. Đọc báo càng thêm bi quan. Những trận đánh kinh hồn đang xãy ra Long Khánh, sau khi mất Phan Rang. Dù Quân Đoàn IV chưa sứt mẻ gì, vẫn còn đầy đủ tại hàng ứng chiến. Trận đánh dằng dai với Sư Đoàn 5 CSBV chỉ còn lẻ tẻ. Trung Tá Nguyễn Mạnh Lâm, Thiết Đoàn Trưởng TD16 Kỵ Binh  tử trận tại chiến trường nầy.Tui cũng vừa chấm dứt khóa huấn luyện tân binh bổ sung cho ba Chi Đoàn tác chiến hơn tháng trước,  sau đó tổ chức một đêm văn nghệ hào hứng cho các tân binh thưởng thức,  vì tôi đoán biết sẽ có nhiều em sẽ ra đi. Bây giờ ở đây mới biết được Hổ Cáp và Thiết Đoàn 9 KB đã đánh tan tác bọn VC mà tên Tướng VC lê đức anh chạy bán sống bán chết ở Chương Thiện. Lữ Đoàn 4 KB và TD 2KB ( – ) đang cầm chân bọn Sư Đoàn 5 CSBV tại Bình Thạnh Thôn, Tuyên Quang, Tuyên Bình. Đang giao chiến ở Bình Thạnh Thôn, Tuyên Bình,  SD 5 CSBV rút đi, vào chiếm Tỉnh Long An. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam cho Trung Đoàn 10/ Sư Đoàn 7BB trực thăng vận vào tàn sát bọn Bắc Cộng. Tụi nó đi ngờ ngờ không chuẩn bị tác chiến. Qua cung từ tù binh, được biết bọn cán binh VC được lệnh vô tiếp thu Long An vì đã chiếm được Long An rồi. Một số dạt qua Bến Tranh, Mỹ Tho, gặp Chi Đoàn 2/2 Thiết Kỵ tại đó chơi cho tụi nó một trời hỏa lực. Tan hàng tụi nó chạy tứ tán. Sau đó tập trung quân đánh Thủ Thừa để cắt đường viện binh của QDIV cho Saigon. Một trận đánh đẩm máu. Địa Phương Quân dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Tỉnh Trưởng Long An,  phối hợp Lực lương 99 Đặc nhiệm Hải Quân đã đánh cho bọn VC tan tác trước khi Saigon tuyên bố đầu hàng.
    Bắc Hà chưa được tái bổ nhiệm, vẫn còn cà nhỏng, nên tui được cử chỉ huy dàn xe M113 ở hậu cứ, khiển dụng nhưng không được đưa ra hành quân, vì không đủ xăng dầu. Đó là hậu quả của Hiệp Đình Đình Chiến Paris 1973, bị Quốc Hội Mỹ cắt viện trợ năm 1975, có một Đại đội Long Phi tùng thiết, toàn lính văn phòng thuộc Bộ Tư Lệnh SD9BB. Có vài sĩ Quan Chi Đoàn đang dưởng bệnh, phụ giúp tui chỉ huy Bộ Binh cũng đở khổ. Tui thường nói,  mình thất thế, mình thiếu phương tiện yểm trợ, thiếu đạn dược, xăng dầu,  mình thua rồi, nhưng phải đánh trận cuối cùng rồi ra sao hậu xét. Lính tráng vẫn còn tại hàng không bỏ trốn, dù là lính văn phòng, cũng thấy được tinh thần quyết chiến của anh em.
    Ngày 27 tháng 4 tình hình chiến sự bi đát ở Quân Đoàn III nhưng Quân Đoàn IV vẫn vững vàng. Lệnh tử thủ từ Quân Đoàn vẫn được chấp hành nghiêm chỉnh. Có lệnh cho một xe GMC đưa Thượng Sĩ, ban Tài chánh về Saigon, phát lương cho Chi Đội tăng phái cho Lực Lượng H đang bảo vệ Saigon. Mấy hôm trước thằng em Pilot, Phi Đoàn Thần Tượng di tản về Saigon, nhắn tin ráng dọt về Saigon nó sẽ đưa đi. Cùng lúc Chỉ huy Trưởng Tiền Doanh Yểm Trợ Vĩnh Long, bạn cùng khóa với ông anh rễ Hải Quân, nhắn tin tối 29 tháng 4 bước qua Tiền Doanh anh sẽ đưa ra biển. Quyết định đi hay ở cứ ám ảnh Ngụy tui hoài.
    Sáng 28 tháng 4 nhiều lần định bỏ quân, bỏ lính, bỏ đơn vị bước lên GMC về Saigon là xong. Tài xế là linh của tui. Chi Đoàn Trưởng Công Vụ kiêm Chỉ Huy Hậu cứ không thể cản tui được. Cuối cùng chỉ đứng nhìn xe GMC chạy. Cũng tại hai chữ Danh Dự mà ông Tướng Chỉ Huy Trưởng Quân Trường Đồng Đế nhắn nhủ SVSQ ngày mãn khóa, lúc nào cũng vang vang trong tâm, trong não của tui. " Mạng sống có thể mất. Nhưng Danh Dự không thể mất ". Chiều 28 tháng 4 đang ăn cơm Thiết Đoàn, thực đơn cũng như mọi ngày. Bàn ăn Sĩ Quan  có 4 người, Ba thằng tui cùng Thiếu úy Tích Trưởng Ban 1 Thiết Đoàn . Hạ Sĩ Quan và Binh sĩ thì mấy bàn gần đó. Cấm trại nên nhà ăn đông lắm. Nhưng không có tiếng cười tiếng diễu như mọi ngày. Bổng hàng loạt hỏa tiển bay vào cả đám bò càng, trừ ba thằng tui ngồi tỉnh bơ ăn cơm tiếp tục. Một chốc yên tỉnh, mọi người trở về ăn cơm tiếp. Yên lặng và yên lặng. Ăn cơm mà nét mặt mấy tay Kỵ Binh  có vẻ lo sợ. Bắc Hà lên tiếng trước, ông than phiền, vắng chiến trường lâu quá nên không còn phản xạ nữa. Th/úy Trong không nói năng gì, Th/úy Tích sau khi lồm cồm ngồi vào bàn ăn cũng yên lặng. Để phá tan không khí im lặng,tui nhìn qua dãy bàn ăn của Hạ Sĩ Quan và Binh sĩ nói  “ Tao cũng muồn bò, núp như tụi bây, nhưng mới thay bộ đồ sạch, sợ dơ tới đâu thì tới. Cả đám cười quên sợ. Thật ra mấy tay lính văn phòng có bao giờ nghe hoả tiển hay pháo kích. Tiếng hoả tiển bay nghe ghê lắm Sợ là phải. Chẳng có gì để cười hết. Với ba thằng tui nghe hỏa tiển hoài nên biết khi nó hú, nó kêu u u u,  nó đã bay qua đầu rồi. Còn nó kêu xè xè xè, sợ trốn hay núp cũng không kịp. Nhớ lúc đang dàn trận tại chiến trường Thường Phước, Hồng Ngự, bốn quan Vỏ Bị Đà Lạt, khóa 26, đang đứng gần Chi Đội tui để được bổ sung cho Đại Đội Trinh Sát 15 tùng thiết, đang ứng chiến phía trước. Mời lên xe uống cà phê, VC chơi hỏa tiển bay qua đầu Chi Đội, tiếng hú nghe rợn người, Mấy quan Vỏ Bí bò người sát xuống. Nhìn thấy lính Thiết Giáp tỉnh bơ mấy quan Vỏ Bị có vẻ quê cơ, tui bèn nói. “Ai lần đầu nghe cũng sợ. Mai mốt nghe quen hết sợ”.
    Tối 29 tháng tư, định băng qua đường,  qua Tiền Doanh Yểm trợ Vĩnh Long. Con đường gần xịt hà. Vây mà băng qua không được. Tui khoái đi Mỹ lắm. Khoái từ thời còn đi học, lại ham chơi, nên đậu Tú Tài hạng thấp,  không đủ điều kiện đi du học. Bây giờ chỉ cần một chút can đảm, bỏ lại sau lưng cái liêm sĩ, thoải mái băng qua đường tiến ra biển. Khỏe re. như con bò kéo xe không. Để khỏi phải suy nghĩ, rủ mấy SQ Chi Đoàn vào câu lạc bộ uống bia, cười cười nói nói để khỏi phải suy nghĩ đi hay ở. Lòng lúc nào cũng cầu mong VC tấn công phi trường, ngay hướng Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh, để tui được đánh trận cuối cùng của cuộc đời rồi ra sao cũng OK, như hôm nào ngồi nhậu ở quán Thủy Tiên đã nghĩ.
    Ngày 30 tháng 4 lúc11 giờ sáng đang ngồi ở bàn làm việc, nghe tiếng radio vọng từ xưởng sửa chửa lệnh đầu hàng của Tướng Big Minh. Chỉ biết lắc đầu, đã đoán trước từ ngày Tổng Thống Thiệu tù chức bây giờ não nề quá. Bước qua xưởng, tụi lính hỏi giờ phải làm sao. Trả lời lênh tử thủ của Tướng  Nguyễn Khoa Nam vẫn còn hiệu lực, nhưng đứa nào muốn dzọt thì cứ tự nhiên. Lạ là không ai ra đi, dù tui gián tiếp đồng ý. Trưa cơm, chiều cơm, tối đến ra tuyến chờ VC vào để đánh trận cuối cùng,  chẳng thấy bọn tự xưng là anh hùng giải phóng xuất hiện. Bọn nó cũng sợ chết giờ thứ 25. Lính vẫn còn đầy đủ. Không biết bên Sư Đoàn ra sao. Không muốn ra cổng Sư Đoàn để tìm hiễu. Bàn với Chi Đoàn Trưởng công vụ tuyên bố xả láng. Kho lương thực bia, thuốc lá, đồ hộp, hàng Quân Tiếp Vụ đem ra phát cho lính. Cả đám SQ có mấy ngoe, vào hội trường uống cà phê hay Bia Quân Tiếp Vụ chờ lệnh. Thiếu Tá Cảnh, Sĩ Quan Hành Chánh Tài Chánh, cứ lấy cái muổng khỏ vào ly rồi ca “ Trong đoàn tù binh có tôi đi hàng đầu “ Thấy tui cười, ông giải thích  “tao lớn lon nhất, tao phải đi đầu chứ”. Đại úy Chi Đoàn trưởng Công Vụ không thấy đâu. Buồn ngủ mà không ngủ được. Tới 4 giờ sáng 1 tháng 5, 1975 có lệnh của Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc, Tư Lệnh SD9BB, từ Bộ Chỉ huy nhẹ ở Mỹ Tho, giải tỏa lệnh tử thủ, khuyên nên rời bỏ đơn vị trước khi VC đến. Không bàn giao, không đầu hàng gì cả. Trở về phòng vất súng đạn, nón sắt, dây ba chạc. Đứng trước tủ sách không biết lấy quyển gì. Trong vô thức lấy tập thư Động Hoa Vàng mà cô giáo dạy Việt Văn tặng, Th/úy Trọng bước qua hỏi lấy M72 bắn tủ sắt đựng tiền được hay không? Suy nghĩ bảo thôi. Lấy xe Jeep đổ đầy bình xăng thêm 1 can sơ cua. Bỏ bao gạo lên xe chạy ra ngoài phố lúc 7:00 sáng. Ghé nhà bồ của Th/úy Trọng. Tui mặc civil, Th/úy Trong vẫn mặc quân phục (không có đồ dân sự). Đứng nhìn trời hiu quạnh. Ngay ngã ba đường qua Cần Thơ, một Chi Đoàn của TD16 KB tan hàng tại đây. Súng đạn còn đầy đủ trên xe. Cũng không buồn lại gần coi mấy ông TD16 bỏ lại cái gì.
    Ngày 1 tháng 5, 1975,  lúc 8 giờ sáng có lác đác bọn dép râu nón cối đi về hướng Bô Tư Lệnh SD9BB. Nghĩ thầm phải quyết định nhanh, bàn với Th/úy Trong “ bây giờ mình phải dọt. Ở lại nguy hiểm quá. Bắc Hà nhà ở Vĩnh Long, mầy chọn lựa hoặc theo tao về Saigon ở nhà tao hoặc về nhà mầy ở Châu Đốc”. Nó muốn về Châu Đốc. Ngay lập tức tui dọt ra Bắc Mỹ Thuận, trong người chỉ có thẻ sinh viên và căn cước dân sự. Mang mấy giấy tờ quân đội như chứng chỉ tại ngủ, hay căn cước quân nhân, gặp du kích khó khá. Bọn du kích quấn khăn rằn giờ đông lắm. Chúng nó muốn bắt ai, bắn ai là tùy ý. Lúc nầy là loạn VC. Tới Bắc Mỹ Thuận mua mấy bịch trà đá, vài ổ bánh mì, mấy xâu nem ngồi trên xe trực chỉ Saigon. Mãi đến 7 giờ tối mới về tới nhà đã thấy bọn VC đầy ở Saigon. Cả nhà, cha mẹ, chị em mừng mừng tủi tủi.
    Những ngày cuối cùng đời lính không có những trận đánh oanh liệt bi hùng như Thiết Đoàn 5 KB, ở Long Khánh, ở QL20, ở Trảng Bom hay Lực Lượng Xung kích Quân Đoàn 3 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh  ở căn cứ Nước Trong, ở thành Phố Biên Hòa, những trận đánh cuối cùng vang danh chiến sử, những trận đánh rửa mặt cho đoàn quân rút lui từ Quân Đoàn I, Quân Đoàn II. Những trận đánh làm cho quân Bắc Cộng thiệt hại nặng nề. Những hy vọng, những mong ước được đánh trận cuối cùng của cuộc đời để trả nợ núi sông cũng không có. Cho nên Đời Tỵ Nạn đâu có gì vui chỉ có một nỗi buồn mất nước.
    Mỗi năm cứ đến tháng Tư là cứ nhớ. Nhớ thời trai trẻ, nhớ tháng ngày trong quân ngủ, dù ngắn ngủi, nhưng nó làm nên con người của tui, được giáo dục bằng ba triết lý: Dân Tộc – Nhân Bản-Khai Phóng vào Quân Đội sống chết với ba tín niệm: Tổ Quốc –Danh Dự -Trách Nhiệm. Luôn tự hỏi lòng, mình đã sống có xứng đáng là công dân của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa hay không?
    Trong khi tui bị dằn vặt đi hay ở thì tại trời Tây ngày 27 tháng 4 năm 1975, tất cả sinh viên VN du học trên thế giới hướng về quê hương bằng nỗi buồn chất ngất. Ở Mỹ, ở Pháp ở Nhật, ở Đức, ở Úc …đều có những cuộc biểu tình hướng về quê mẹ. Đặc biệt hình ảnh những sinh viên VNCH tại Pháp, đã tổ chức cuộc xuống đường biểu tình, Tất cả đã để tang cho đất nước, Cầm Đại Kỳ VNCH đi giữa lòng thủ đô Paris hoa lê, với những giọt nuớc mắt rưng rưng trên khuôn mặt trầm buồn. Với cờ Quốc Gia và một rừng biểu ngữ. Biểu ngữ bằng Tiếng Pháp, chữ màu trắng nền đen. Vinh Danh các Chiến Sĩ đã Hy Sinh cho Tự Do, Miền Nam Tự Do Bất Diệt, Ngày Đại Tang … Đây là hình ảnh nỗi bật mà những sinh viên du học cùng thế hệ của tui đã khóc thuơng cho đất nước. Cùng tiếng hát đầy nước mắt bài Quốc Ca của sinh viên tại Pháp, có tiếng hát nghẹn ngào đẳm đầy nước mắt, của hơn 30 ngàn đồng bào hiện diện trên hơn 30 chiến hạm Hải Quân VNCH lúc làm lể hạ cờ VNCH trên các chiến hạm Hải Quân khi tiến vào Subic Bay . Bài Quốc ca Tiếng Gọi Công Dân đã được hát lên tại Paris, tại Washington, tại thủ đô Saigon, trên chiến hạm Hải Quân, trên đường di tản và cũng đã cất lên trên chiến địa Phan Rang, trên Quốc Lộ 20, ở Trảng Bom, ở Long Khánh, ở căn cứ Nước Trong, Long Thành,  Trường Thiết giáp, ở Ngã Ba Dầu Dây, ở thành phố Biên Hòa... để chiêu niệm cho ngày đại tang của đất nuớc thân yêu...
    Xin nhắc lại lời của TT Nguyễn Văn Thiệu:
    "Đất nước còn, còn tất cả
    Đất nước mất, mất tất cả".

 

– Nguyễn Hùng Anh

 

 

 

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.