Hôm nay,  

Đọc những vần thơ cho Mẹ

12/05/202408:13:00(Xem: 3527)
Tản mạn -- Ngày Lễ Mẹ

117771775_1818674078301723_2593627914711228905_n

Mẹ đã về cõi vĩnh hằng. Tưởng nhớ mẹ, nhà thơ Trần Thanh Quang gửi tiếng lòng vào một trong những bài thơ dành cho mẹ đầy xúc động. Bài thơ có tựa chỉ một tiếng Mẹ nhưng gói gắm cả bầu trời tâm sự của người con. Anh đã chọn thể thơ lục bát truyền thống để chuyển tải thi ý, nghe giai điệu vọng về như tiếng ru của mẹ thuở nào!
    Mở đầu bài thơ là một lời tâm sự với em -nhân vật trữ tình khác như thể để dặn dò nhân vật em: Em còn có mẹ, ta thì không. Em có mẹ để về, để sà vào lòng mẹ, còn ta mẹ đã đi xa rồi, chỉ còn lại nỗi niềm nhớ thương chất ngất.
 
“Em còn có mẹ để về
riêng ta nặng nỗi ê chề nhớ thương
những điều rất đỗi bình thường
luôn phơi kín suốt con đường ta qua”
 
Hồi ức nhớ lại. Có những điều rất đỗi bình dị trong cuộc sống bây giờ đã thành kỷ niệm. Kỷ niệm đã qua với mẹ với gia đình luôn hiện hữu trong tâm trí. Hình ảnh mẹ, lời mẹ nói, cử chỉ của mẹ,.. luôn là hành trang mang theo trong mỗi chặng đường đời khi vấp ngã hay sóng gió cuộc đời, nghĩ về người mà vượt qua dâu bể.
    Mẹ mất đi, mọi đứa con dù ở độ tuổi nào cũng cảm thấy như bầu trời sụp đổ và cảm giác bơ vơ, đơi côi hơn bao giờ hết. Nỗi nhớ mẹ thường trực trong tâm trí, Tâm trạng người con mất mẹ nhiều khi thờ thẫn, không muốn chấp nhận sự thật là mẹ đã không còn nữa trên đời, ngẩn ngơ nhìn vào cõi mông lung không định hướng, như thể mẹ vừa mới đi đâu. Nhớ mẹ, tác giả nhớ hình dáng mẹ với hình ảnh “ bờ vai khô” là dấu hiệu của tuổi tác, dấu hiệu của thời gian đã bào mòn sức khỏe mẹ.
Hình tượng “bờ vai khô” cũng phần nào nói lên nỗi vất vả lo toan của mẹ. Bờ vai ấy đã gánh những gì:
 
“Bờ vai gánh những xô bồ
những cay đắng bạc áo thô mẹ hiền”
 
Câu thơ hàm súc, ít lời mà nhiều. Cuộc đời mẹ - người phụ nữ Việt Nam chịu thương chịu khó tần tảo sớm trưa, chăm lo gia đình và nuôi dạy con cái. Những cụm từ, “vai gánh xô bồ”; “cay đắng”, “bạc áo thô mẹ hiền” cho ta cảm nhận được mẹ đi qua cuộc đời không ít gian trân, những xô bồ của bộn bề cuộc sống. Nhất là mưu sinh trong thời loạn. Cả những buồn vui của kiếp người, của phù trầm dâu bề mà mẹ từng trải qua. Câu thơ như lời kể trong tiếng khóc thương của người con tưởng nhớ mẹ.
    Tác giả nhớ và tiếc những tháng ngày bên mẹ giờ đã lùi xa vào dĩ vãng, anh dặn dò với “nhân vật em”. Khi còn mẹ dẫu mẹ sức khỏe của tuổi xế chiều, nhưng vẫn còn hiện hữu bên cạnh con thì đó là điều hạnh phúc mà anh không thể có lại được. Vì vậy, tác giả như muốn gửi gắm một cái ôm như anh đã từng ôm mẹ. Anh dặn người em: khi về quê hãy ôm mẹ thật chặt, ôm luôn cả vạt áo. Ai có được vòng tay hơi ấm của mẹ thì bao nỗi nhọc nhằn trên đường đời đều tan biến. Không có gì ấm áp hơn là bên cạnh tình thương yêu của mẹ. Đó là điều quý giá, mà anh đã mất, không dễ gì bù đắp được nên tác giả nhắn nhủ tình cảm ấy cho người em khi về bên mẹ của mình. Thông điệp của câu thơ là hãy trân trọng những giây phút quý giá khi còn mẹ, hãy yêu thương và chăm sóc mẹ khi còn có thể.
 
“Mẹ em dẫu tuổi xế tà
nhưng còn hiện hữu hơn là đi xa
về quê em nhớ ôm bà
ôm thật chặt cả vạt tà phất phơ”

Những vất vả hi sinh của mẹ không giấy bút nào kể hết: Mẹ “gom hết ưu phiền”, “ chịu hết đa đoan” để cho con vui vẻ, hạnh phúc, ăn học trưởng thành đủ đầy nhất có thể. Mẹ bươn chải hết mình và những mong con cái vững bước vào đời, như bao bạn bè trang lứa.
 
“Mẹ ta gom hết ưu phiền
cho ta chân cứng đá mềm bình an
mẹ ta chịu hết đa đoan
cho ta hạnh phúc thênh thang giữa đời.”
 
Nhớ Mẹ với tấm lòng bao dung vô bờ bến và trái tim ấp áp và vị tha. Người ta từng ví trái tim người mẹ như một kỳ quan thế giới: dung dưỡng, yêu thương con cái một cách vô điều kiện. Nhớ đến mẹ là nhớ đến công sinh thành dưỡng dục bao la trời biển của người.
 
“Mẹ ta lòng rộng biển khơi
trái tim hơn cả bầu trời xanh cao
đêm về con ngắm chòm sao
thấy như mẹ vẫn ngày nào bên con.”
 
Ngoài những khi công việc cứ cuốn đi hối hả của bộn bề cuộc sống, thì lúc đêm về tĩnh lặng, nỗi niềm thương nhớ mẹ lại dâng trào. Nhìn đâu cũng không thấy mẹ, không còn hơi ấm của mẹ nữa, thi nhân ngồi ngắm chòm sao, biết đâu mẹ cũng là một vì sao nơi xa đâu đó trên vòm trời đang dõi theo con, che chở cho con trên dặm đời mưa nắng. Ngắm sao, sẽ thấy lòng ấm lại như được ở bên mẹ ngày nào. Đó là niềm an ủi cho thi nhân. Mẹ vẫn còn hiện hữu trong tâm trí thi nhân chưa và sẽ không bao giờ phai nhạt.
    Bài thơ là một nén hương lòng hiếu kính của tác giả dành cho mẹ cũng là nói hộ tấm lòng của những ai mất mẹ và thông điệp nhắn nhủ tới những ai còn mẹ: hãy thương yêu và chăm sóc mẹ khi còn có thể.
 
“Con bảy mươi rồi… khóc nhớ mẹ
Tiếng lòng nghe thảng thốt tâm can
Mẹ không còn nữa - Trời tan nát
“Vũ Trụ” đâu rồi…con đơn côi.”
 
– Hoàng Thị Bích Hà

Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.