Hôm nay,  

Đọc những vần thơ cho Mẹ

12/05/202408:13:00(Xem: 3338)
Tản mạn -- Ngày Lễ Mẹ

117771775_1818674078301723_2593627914711228905_n

Mẹ đã về cõi vĩnh hằng. Tưởng nhớ mẹ, nhà thơ Trần Thanh Quang gửi tiếng lòng vào một trong những bài thơ dành cho mẹ đầy xúc động. Bài thơ có tựa chỉ một tiếng Mẹ nhưng gói gắm cả bầu trời tâm sự của người con. Anh đã chọn thể thơ lục bát truyền thống để chuyển tải thi ý, nghe giai điệu vọng về như tiếng ru của mẹ thuở nào!
    Mở đầu bài thơ là một lời tâm sự với em -nhân vật trữ tình khác như thể để dặn dò nhân vật em: Em còn có mẹ, ta thì không. Em có mẹ để về, để sà vào lòng mẹ, còn ta mẹ đã đi xa rồi, chỉ còn lại nỗi niềm nhớ thương chất ngất.
 
“Em còn có mẹ để về
riêng ta nặng nỗi ê chề nhớ thương
những điều rất đỗi bình thường
luôn phơi kín suốt con đường ta qua”
 
Hồi ức nhớ lại. Có những điều rất đỗi bình dị trong cuộc sống bây giờ đã thành kỷ niệm. Kỷ niệm đã qua với mẹ với gia đình luôn hiện hữu trong tâm trí. Hình ảnh mẹ, lời mẹ nói, cử chỉ của mẹ,.. luôn là hành trang mang theo trong mỗi chặng đường đời khi vấp ngã hay sóng gió cuộc đời, nghĩ về người mà vượt qua dâu bể.
    Mẹ mất đi, mọi đứa con dù ở độ tuổi nào cũng cảm thấy như bầu trời sụp đổ và cảm giác bơ vơ, đơi côi hơn bao giờ hết. Nỗi nhớ mẹ thường trực trong tâm trí, Tâm trạng người con mất mẹ nhiều khi thờ thẫn, không muốn chấp nhận sự thật là mẹ đã không còn nữa trên đời, ngẩn ngơ nhìn vào cõi mông lung không định hướng, như thể mẹ vừa mới đi đâu. Nhớ mẹ, tác giả nhớ hình dáng mẹ với hình ảnh “ bờ vai khô” là dấu hiệu của tuổi tác, dấu hiệu của thời gian đã bào mòn sức khỏe mẹ.
Hình tượng “bờ vai khô” cũng phần nào nói lên nỗi vất vả lo toan của mẹ. Bờ vai ấy đã gánh những gì:
 
“Bờ vai gánh những xô bồ
những cay đắng bạc áo thô mẹ hiền”
 
Câu thơ hàm súc, ít lời mà nhiều. Cuộc đời mẹ - người phụ nữ Việt Nam chịu thương chịu khó tần tảo sớm trưa, chăm lo gia đình và nuôi dạy con cái. Những cụm từ, “vai gánh xô bồ”; “cay đắng”, “bạc áo thô mẹ hiền” cho ta cảm nhận được mẹ đi qua cuộc đời không ít gian trân, những xô bồ của bộn bề cuộc sống. Nhất là mưu sinh trong thời loạn. Cả những buồn vui của kiếp người, của phù trầm dâu bề mà mẹ từng trải qua. Câu thơ như lời kể trong tiếng khóc thương của người con tưởng nhớ mẹ.
    Tác giả nhớ và tiếc những tháng ngày bên mẹ giờ đã lùi xa vào dĩ vãng, anh dặn dò với “nhân vật em”. Khi còn mẹ dẫu mẹ sức khỏe của tuổi xế chiều, nhưng vẫn còn hiện hữu bên cạnh con thì đó là điều hạnh phúc mà anh không thể có lại được. Vì vậy, tác giả như muốn gửi gắm một cái ôm như anh đã từng ôm mẹ. Anh dặn người em: khi về quê hãy ôm mẹ thật chặt, ôm luôn cả vạt áo. Ai có được vòng tay hơi ấm của mẹ thì bao nỗi nhọc nhằn trên đường đời đều tan biến. Không có gì ấm áp hơn là bên cạnh tình thương yêu của mẹ. Đó là điều quý giá, mà anh đã mất, không dễ gì bù đắp được nên tác giả nhắn nhủ tình cảm ấy cho người em khi về bên mẹ của mình. Thông điệp của câu thơ là hãy trân trọng những giây phút quý giá khi còn mẹ, hãy yêu thương và chăm sóc mẹ khi còn có thể.
 
“Mẹ em dẫu tuổi xế tà
nhưng còn hiện hữu hơn là đi xa
về quê em nhớ ôm bà
ôm thật chặt cả vạt tà phất phơ”

Những vất vả hi sinh của mẹ không giấy bút nào kể hết: Mẹ “gom hết ưu phiền”, “ chịu hết đa đoan” để cho con vui vẻ, hạnh phúc, ăn học trưởng thành đủ đầy nhất có thể. Mẹ bươn chải hết mình và những mong con cái vững bước vào đời, như bao bạn bè trang lứa.
 
“Mẹ ta gom hết ưu phiền
cho ta chân cứng đá mềm bình an
mẹ ta chịu hết đa đoan
cho ta hạnh phúc thênh thang giữa đời.”
 
Nhớ Mẹ với tấm lòng bao dung vô bờ bến và trái tim ấp áp và vị tha. Người ta từng ví trái tim người mẹ như một kỳ quan thế giới: dung dưỡng, yêu thương con cái một cách vô điều kiện. Nhớ đến mẹ là nhớ đến công sinh thành dưỡng dục bao la trời biển của người.
 
“Mẹ ta lòng rộng biển khơi
trái tim hơn cả bầu trời xanh cao
đêm về con ngắm chòm sao
thấy như mẹ vẫn ngày nào bên con.”
 
Ngoài những khi công việc cứ cuốn đi hối hả của bộn bề cuộc sống, thì lúc đêm về tĩnh lặng, nỗi niềm thương nhớ mẹ lại dâng trào. Nhìn đâu cũng không thấy mẹ, không còn hơi ấm của mẹ nữa, thi nhân ngồi ngắm chòm sao, biết đâu mẹ cũng là một vì sao nơi xa đâu đó trên vòm trời đang dõi theo con, che chở cho con trên dặm đời mưa nắng. Ngắm sao, sẽ thấy lòng ấm lại như được ở bên mẹ ngày nào. Đó là niềm an ủi cho thi nhân. Mẹ vẫn còn hiện hữu trong tâm trí thi nhân chưa và sẽ không bao giờ phai nhạt.
    Bài thơ là một nén hương lòng hiếu kính của tác giả dành cho mẹ cũng là nói hộ tấm lòng của những ai mất mẹ và thông điệp nhắn nhủ tới những ai còn mẹ: hãy thương yêu và chăm sóc mẹ khi còn có thể.
 
“Con bảy mươi rồi… khóc nhớ mẹ
Tiếng lòng nghe thảng thốt tâm can
Mẹ không còn nữa - Trời tan nát
“Vũ Trụ” đâu rồi…con đơn côi.”
 
– Hoàng Thị Bích Hà

Những chiếc đèn lồng đỏ lơ lửng trên đường Nguyễn Huệ như những giọt máu đông cứng trong hổ phách. Don Washington đứng ở rìa Chợ Tết, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên eo Helen, cảm nhận hơi ấm từ lớp da tổng hợp của vợ mình—98.6 độ F, luôn hoàn hảo, luôn như người thật. Đám đông chen chúc xung quanh họ: những gia đình mặc cả mua cây quất, cành mai, chậu cúc. Trẻ con đuổi nhau giữa các gian hàng hạt sen, mức sấy, bánh kẹo. Xe máy bóp còi luồn qua những khe hở bất khả thi.
Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.