Hôm nay,  

Người Vợ Hoàn Hảo

26/07/202400:00:00(Xem: 7406)

3670
 
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà.

Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.

Không đám cưới. Khi vợ lớn mua Hà về với giá trọn gói gần sáu trăm ngàn đô la, một phần tư gia tài tiết kiệm của bà. Sau một chuyến đi xa thăm bạn, trở về. Bước vào nhà, gặp Hà, tôi sửng sốt như chú Cuội rơi đùng xuống mặt trăng, thấy chị Hằng. Dung nhan và vóc dáng của Hà đã làm tôi xây xẩm, nhưng câu nói của vợ tôi: “Đây là Hà, vợ hai của anh. Hà chào anh đi.” Làm trời vỡ ra từng mảnh, rơi xuống, chôn tôi như trồng cây, toàn thân cứng đơ, toàn cảnh bất động, chỉ còn hơi thở gấp rút cho kịp nhịp tim đang bơm xí xát.

Hà đẹp từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, từ trong ra ngoài. Tất cả các bộ phận trên thân thể đều tiếp cận một trăm phần trăm hoàn hảo. Nàng khiến tôi bừng bừng sức sống. Ông đang già này bỗng trẻ lại, tập thể dục, chạy bộ, cử tạ, ăn uống đều độ. Bề ngoài, cắt tóc ngắn, áo quần tươm tất, miệng cười tươi như chành thanh niên thơm ngát ái tình. Giờ đây, tôi chẳng những bớt chênh lệch với Hà mà còn xứng đôi với vợ lớn. Bà lúc nào cũng trẻ đẹp. Thể thao, chế độ thực phẩm, thời trang … tiết mục nào, bà cũng am tường và đứng vào hàng thượng hạng.

3677

Thỉnh thoảng nằm lăn lộn giữa hai bà vợ, tôi tự hào biết bao nhiêu. Thường thì mỗi vợ ở phòng riêng, mỗi tuần tôi ngủ với vợ lớn một đêm. Đêm đó chay tịnh. Tôi đấm bóp và ru vợ ngủ. Tay nghề sờ soạng, vuốt ve, nhấn thả, cuốn xoa, thuộc hàng cao thủ, nhất là khi tôi viết hai mươi bốn chữ cái trên thân thể bà theo kiểu tiếng Phạn, có thể nghe được âm khẻ du dương của cây đại hồ cầm gọi rắn trườn mình tìm về quá khứ. Nhờ vậy, đôi lần, bà bỏ ăn chay. Những lần như vậy, bà ăn gấp đôi bình thường. Tôi sẽ yêu vợ tôi cho đến cuối cuộc đời. Vợ tôi tên Dung.

Nhưng tôi cũng yêu Hà. Ai nói tình yêu không thể chia xẻ? Có lẽ những người nói đang có tình yêu giới hạn hoặc ít quá, không đủ cho một người dùng. Người tình này chưa đủ ấm no làm sao muốn chia cho ai khác? Trong trường hợp, ái tình dư thừa, ví dụ, người vợ đã đầy đủ, bỏ rác những dư thừa, không thấy uổng phí sao? Cho đến một hôm, cô ta nhận ra đã phế thải quá nhiều ái tình, hôm đó, hy vọng một người khác nhận được trợ cấp.

Mỗi đêm, tôi yêu cầu Hà mặc mỗi y phục các dân tộc khác nhau trước giờ lên giường. Khi thì Kimono, khi Xườn xám, khi bikini, khi quấn kín kiểu hồi giáo, khi không có gì như thời địa đàng, khi áo dài, khi đồ thể thao, kiểu nào, cở nào, Hà cũng đẹp và hấp dẫn, đẹp sang trọng, đẹp lộng lẫy, đẹp đơn sơ, đẹp trầm tĩnh, đẹp bạo động …. Tôi hoàn toàn hài lòng. Ngày sinh nhật, tôi và Hà cảm ơn vợ tôi thành thật và nồng nhiệt. Bà nói với Hà: “Nhờ em mà chị ngủ được ngon giấc.”

Hà hầu như không ngủ, ngoài những lúc ăn nằm với tôi. Nàng đảm đang hết tất cả những việc lớn nhỏ trong nhà, ngoài sân. Giữ gìn sạch sẽ và ngăn nắp. Nấu những món ăn Việt không ngon bằng vợ lớn, nhưng biết nấu hầu hết các thể loại món ăn thế giới. Càng về sau, vợ lớn càng ít nấu nướng, Hà đảm nhiệm luôn việc đi chợ online. Làm vườn, trồng hoa, cắt cỏ giỏi hơn tôi. Nàng không mệt. Không chảy mồ hôi. Không than thở. Cứ đều đều hoàn hảo làm đủ mọi việc theo thứ tự từ sớm đến khuya.

Hà chẳng những biết pha cà phê đủ hạng, lại biết pha rượu không thua gì các quày rượu nổi tiếng ở New York, Paris. Lạ lùng, nàng hát rất hay, còn biết giả giọng hát của các ca sĩ nỗi danh từ quá khứ cho đến đương đại, kể cả Louis Armstrong. Những phụ nữ như nàng càng ngày càng xuất hiện rất nhiều. Những phụ nữ hoàn hảo càng lên giá cao. Rồi đàn ông hoàn hảo cũng bắt đầu lên quảng cáo.


3671
Vợ tôi chưa bao giờ hỏi chuyện riêng tư của tôi với Hà, rồi một hôm bà nói:

-       “Anh ngủ với Hà có khác với em không?”
-       “Em dịu dàng và tình cảm hơn. Hà nhiệt tình, anh có cảm giác như cô phục vụ. Cái đều đều hoàn hảo đôi lúc gây cảm giác sợ.”
-       “Em xin lỗi. Biết anh ham thích chơi bời, nhưng em không thể dối. Những khi nằm bất động, em biết lòng anh giận hờn. Những khi lẩn tránh, em biết anh nổi điên. Không hiểu sao, những năm về sau này, em mất đi thích thú. Không phải vì anh mà vì thứ gì đó ngăn chận trong ngực em. Em biết, anh yêu em, hiểu biết và chiều chuộng em. Mỗi khi thấy anh tự xử lý, em thật hối hận. Tha lỗi cho em.
-       “Thôi, những chuyện đó qua rồi. Hà đã giải quyết ham muốn của anh. Anh cũng lo âu vết nứt đó càng ngày càng lớn, sẽ làm sụp đổ lời hứa của chúng ta. Nhưng em, em đã hàn gắn vết thương. Anh cảm ơn em mới đúng.”
-       “Thôi mình đừng nói chuyện này nữa. Anh vào gọi Hà đi shopping. Hôm nay đừng nấu ăn chiều.”

Rồi hai tuần trước, đêm thứ Hai, Hà và tôi đang yêu nhau say đắm như thường lệ. Những lúc xuất hồn bay lao đao muốn xỉu giữa không gian, níu cứng thời gian, Hà thường hay gọi, “anh ơi” rồi thở hắt ra. Đêm nay cũng không ngoại lệ. Tôi vừa bay lên xoay vòng, sắp bất tỉnh trên đỉnh Phú Sĩ, Hà kêu lên “anh…” rồi tắt thở. Nàng chết chưa kịp nói tiếng “ơi”.

Tôi bật đèn lên khám xét. Hà chết thật rồi. Gọi vợ lớn dậy, báo cho bà biết. Vợ tôi thức cho đến sáng lên online làm thủ tục báo tử điền gửi nhiều loại giấy tờ linh tinh. Tôi ngồi một bên, uống cà phê và chuyện trò nhát gừng. Chúng tôi không buồn lắm. Riêng tôi thấy tiếc cho Hà, đồng thời lại cảm thấy phấn khởi. “Em sẽ lấy vợ khác cho anh phải không?”

Vẫn là phong cách của làm việc trầm tĩnh tính toán của vợ tôi. Bà không trình bày, giải thích gì nhiều. Trong thái độ im lặng đó, tôi biết bà đang tìm cho tôi cô vợ khác.

Hôm nay lễ kỷ niệm 40 năm hôn nhân, chúng tôi đi ra biển suốt ngày, ăn mừng với gió, muối, còng, cá, bia và rượu pha. Mấy hôm nay bị tôi làm phiền, bà mất ngủ, bây giờ dưới bóng dù, gió mát hiu hiu, vợ tôi ngủ thật say, thật hiền hậu, thật đẹp khi ánh nắng theo mặt trời nghiêng dần, nắng bò lên bàn chân em, mò dần lên đầu gối, rồi từ tốn cưỡi lên mông. Nắng đi đến đâu, nơi đó da em rực rỡ, biến tuổi tác thành những sợi lông măng mỏng và ngắn, nhưng khiêu khích chói chang giữa những hạt cát bám vào em không chịu thả tay. Anh phủi nhẹ những hạt cát, chúng rơi và có lẽ đang tìm cách leo lên lại.

Chiều tối, xe mới về đến nhà. Mang trái cây và thực phẩm mua dọc đường sắp xếp vào tủ lạnh. “Đêm nay, anh ngủ trong phòng của anh nha.” “Em mệt sao?” “Không, nhưng anh không cần qua phòng em.”Tôi cố không tỏ vẻ gì khác lạ, không thở mạnh, nhìn vợ đi một mạch vào phòng đóng cửa, không nhìn lui.

Đi vào phòng riêng với ý định tắm một cái cho hạ hỏa. Không thể hiểu, em à, đêm nay kỷ niệm ái tình mà.

3679
Một lần nữa, tôi giật mình, chết đơ. Vợ tôi đang nằm trên giường. Trong áo ngủ lụa trắng, nàng đẹp thật hoàn hảo. Trẻ như đêm đám cưới thuở xưa. Sửng, tôi sửng sốt. Câm, tôi câm nín. Nghĩ, tôi không nghĩ gì. Nàng ngồi dậy nói:

-       “Em tên Lụa. Happy anniversary. Chị lớn nói em làm vợ bé của anh. Em đã được nâng cấp lập trình Kama Sutra phiên bản mới nhất. Bảo đảm hơn hết là lập trình tự hồi sinh để tránh tai nạn bị đứt mạch bất ngờ hoặc bộ não tự hủy hoại như trường hợp chị Hà. Anh đi tắm rồi thay đồ lên giường. Từ nay, em sẽ phục vụ anh.”
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.