Xã Hội Thiếu Đàn Ông

08/08/202417:12:00(Xem: 1879)
Potrait of Valentine 1937
Tranh: Roland Penrose
Portrait of Valentine (1937)




Buổi sáng nhỏ giọt trên những vạt rau bị dập
như giọt mồ hôi trên đường nét bàn tay tôi
Tôi bò trên mặt đất
với thân cây và miệng nhăn nheo
mặt trời nhô lên trong những kênh đào của đám lá khổng lồ
phục hồi nghĩa trang nơi trú ẩn những ngôi nhà
với cùng một lòng nhiệt thành xanh tươi dính
sức mạnh đáng lo ngại, lướt qua tâm trí tôi
sự phi lý của những nhóm người
trong dãy nhà san sát này
như lỗ chân lông trên da
trong khoảng không đau thương của không gian trên mặt đất
Tôi nghe thấy tiếng kêu của những chú chim mà người ta từng kể
rằng chúng hót và không thể lay chuyển như đá
Tôi thấy những đàn nhà đang gặm nhấm không khí
những nhà máy hót như chim từng hót
những con đường mất hút trong những vụ thu hoạch muối
những mảnh trời trở nên khô cằn trên rêu xanh
tiếng cót két của ròng rọc cho ta biết một cái gầu đang nổi lên trong giếng
chứa đầy máu trong suốt
bốc hơi dưới ánh mặt trời
không gì khác có thể làm phiền mạch điện này trên mặt đất
cho đến tối
run rẩy dưới hình dạng con bướm khổng lồ bị ghim chặt
ở lối vào một nhà ga bất động.

Pierre Unik
Nguyễn Man Nhiên dịch


Nguồn: Nguyễn Man Nhiên chuyển ngữ bài thơ "The Manless Society" của nhà thơ Pierre Unik, từ bản dịch tiếng Anh của David Gascoyne.
Pierre Unik (1909–1945) là một nhà thơ, nhà biên kịch và nhà báo siêu thực người Pháp. Unik là một trong những người cuồng nhiệt nhất của nhóm Siêu thực, từ năm 1925 đến năm 1932. Unik đã xuất bản văn bản Siêu thực đầu tiên của mình trên tạp chí La Révolution surréaliste. Là tác giả của hai tập thơ, ông cũng viết kịch bản. Ông đã làm việc với Luís Buñuel - một đạo diễn phim người Tây Ban Nha, trong ba bộ phim.

Năm 1940, Pierre Unik bị bắt trong một trại tù binh chiến tranh ở Silesia. Vào tháng 2 năm 1945, Unik trốn thoát khỏi trại tập trung và sau đó biến mất một cách bí ẩn. Ông được tuyên bố là đã chết, lúc đó là mùa đông ở Tiệp Khắc. Điều gì đã xảy ra với ông, rất ít thông tin được viết. Trong cuốn tự truyện My Last Sigh của Luís Buñuel, tác giả đã mô tả Pierre Unik là "một chàng trai trẻ tuyệt vời, thông minh và nóng nảy". Ông cũng than thở rằng "Unik đã hoàn toàn bị quên lãng!"

Bài thơ "Xã hội thiếu đàn ông" (The Manless Society) của Pierre Unik truyền tải một thông điệp mang tính viễn kiến: cách tự động hóa sẽ khiến nhân loại trở nên thừa thãi và cả tác động mà con người đã gây ra cho thế giới. Thực sự chúng ta quan trọng đến mức nào? Tầm thường đến mức nào? Hay chúng ta chỉ là những cục u của một xã hội bất ổn? Có lẽ Pierre Unik đã suy nghĩ vượt ra ngoài phạm vi đơn giản của công việc và giải trí và mối quan hệ yêu/ghét với thế giới hiện đại.
...

nàng nói huyên thiên | hớp từng ngụm không khí | thở ra tiếng cười rộn rã | và phóng những tia nhìn dễ chịu khắp phòng | tôi thật tình lâng lâng
tháng mười đi ngang bìa sông núi | khát khao một cuộc trở lại
Không biết Trần Bình Trọng nhưng lại thờ Quan Công tên mã phu kiêu mạn làm Thục Hán tiêu vong Sử Tàu thuộc như cháo không thuộc sử cha ông khóc Nhạc Phi, Hàn Tín mà khinh nhờn tổ tông
Có những điều không thể chịu đựng | Ta có thể trốn tránh chúng thật lâu | rồi ta chết.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Tôi không gọi là bệnh Tôi gọi là thời tiết cơn địa chấn từ ngực không bản tin nào dự báo Tôi hai mươi tuổi tin rằng mình đặc biệt cách một cơn mưa tin mình là nguyên nhân cơn lụt
Ngồi nhập định một vì sao | Thả hết vây cánh trôi vào mông lung | Khoảng trống ta Cảm Lạnh lùng | Ngoại thân níu kéo từng khung định hình
Cơn mưa đầu của mùa thu ở miền nam CA, tháng 9, mùa thu về rất sẽ dường như có tiếng gió chuyển mùa ở Sài Gòn, hòa âm. Và những ô tâm hồn nhạy cảm bật mở. Họ nhìn, nghe, cảm, sống với từng cung bậc ảo diệu của mùa Thu. Mùa thu hồng, lối biếc nơi Cali của Du Tử Lê làm mưa rơi và ướt trí nhớ ai? Cái gió chuyển mùa đêm qua nơi Sài Gòn của Trung Dũng Kqđ có mùi ngô đồng, và nó rơi xuống khi va phải một giàn giáo ở chợ An Đông.
Tôi nghe rằng ngày xưa | có lẽ nhiều thế kỷ trước | để thừa nhận sự sai lầm của công lý | một lá cờ trắng sẽ được cắm bên mộ người bị hành quyết oan
người dừng lại, phủi tay áo bụi cánh Việt Điều* chở bao lòng núi | chữ xanh trời ở lại ngàn trang
Những câu thơ vứt lại trên bàn như bữa ăn thừa nguội lạnh Tôi định giết mình bằng cách giữ lại những điều muốn viết Bật từng ngọn đèn trong nhà nhìn chúng chiếu vào một bóng tối khác
Rời đi như lời ca bị xé khỏi bài hát chưa kịp nghe Rời đi Như bài thơ Nhấn chìm ngôn ngữ
Thơ. đầy như tiếng thở ra | Có khi khúc hát ngân nga tuổi chiều | Từ em thả một cánh diều | Bay về định hướng liêu xiêu tình buồn