Hôm nay,  

Những Người Ở Lại

10/09/202414:10:00(Xem: 3888)

Chúng tôi đã lớn vượt qua sự tưởng tượng về thế giới để còn có nhau trong đời.


2 girls in blue dress standing on brown field during daytime
Photo by Josue Michel on Unsplash


Năm sáu tuổi, mẹ dắt tôi đến trường. Mẹ dặn phải nhớ đường, vì từ sau con sẽ tự đi học. Từ nhà đến trường là đường thẳng.

Nhưng tôi thường không đi thẳng về nhà mà sẽ la cà đâu đó. Một hôm, tôi rẽ phải vào xóm lạ lúc giữa trưa. Đi một lúc thì lạc mất. Mẹ dặn nếu lạc đường cứ hỏi người lớn chỉ đường đến ngã ba Hiếu Liêm là về được nhà. Nhưng nhà ven đường đóng kín cửa, chắc mọi người ngủ trưa hoặc đi làm rồi.


Trời nắng chang chang. Tôi càng đi thì càng lạc. Mồ hôi vã ra ướt lưng áo đeo cặp. Tóc tai rối bù vì nắng và sợ. Con đường cũng không còn trải đất thẳng thớm nữa, mà lồi lõm, hố cát, đá lớn, ổ gà, cây dại mọc lấn ra, bóng nắng mất dần. Lúc đó không gian mát hơn vì có bóng cây, nhưng nỗi sợ càng lớn vì tôi không thấy bầu trời nữa, bóng râm như con quái vật khổng lồ.

Một con chó to từ đâu xổ ra sủa cắn. Nó cao gần đến lưng tôi, chồm lên là tới mặt. Tôi bị chó cắn một lần năm ngoái và từ đó rất sợ chó. Tôi bỏ chạy. Con chó to dí theo. Lông màu nâu bóng lên dưới nắng, những nhóm cơ vồng lên lao tới phía trước theo cử động. Bỗng nhiên một thằng bé từ đâu cũng lao ra, vừa vung gậy la mắng, vừa xua con chó đi. Con nâu cụp đuôi quay vào bụi cây, hoá ra phía sau là một ngôi nhà.

"Nó hiền lắm, nhưng thấy ai ngoài đường cũng đuổi," thằng bé giới thiệu chó là của bà nội nó. Nó tên Bi, học cùng trường với tôi (cả cái xã chỉ có một trường tiểu học, đứa nào cũng học trường đó).

Đó là cách tôi và Bi quen nhau. Trẻ con không cần nhiều chuẩn mực hay sự đối chiếu để làm bạn. Bi không biết nhà tôi ở đâu nên nó vào hỏi bà nội chỉ đường và xin bà dẫn tôi về nhà. Bà đã già và hơi còng. Bà cho tôi cốc nước rồi đồng ý cho Bi dẫn về. Từ hẻm nhà Bi, đi qua một lạch nước nhỏ, rồi qua khỏi nghĩa địa, rẽ phải là ra đường đất đỏ lớn. Từ đó tôi đã biết lối về nhà. Nhưng hai đứa tôi vừa đi vừa nói gì đó với nhau mà quên bẵng tới cửa nhà tôi lúc nào không biết.

Thỉnh thoảng đi học về Bi hay đi cùng tôi, xong rẽ qua lối nhà nó, chơi trong vườn nhà nội, rồi tôi vòng lại đường lớn về nhà. Ba của Bi đi theo công trình giống ba tôi, nghĩa là đi làm công nhân xây dựng, công trình ở đâu thì theo đó, khoảng vài tuần về nhà một lần. Bi ở với bà nội. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ của Bi.

Sau này, Bi bảo lý do tôi hay bị chó cắn vì nhìn một cái là biết tôi sợ chó. Tôi đứng im, lùi lại, hoặc rón rén. Con chó có thể thấy người đứng trước nó sợ hãi ra sao. Tôi sẽ lùi dần đến khi bị sủa, rồi bỏ chạy. Tôi bỏ chạy là chó dí. Bi dắt con Nâu của bà ra, bảo tôi đưa tay ra, để Nâu tự ngửi, nếu nó thích, nó sẽ cho vuốt, rồi vuốt đầu nó, thì nó không cắn. Tôi vừa thò tay ra thì thụt lại ngay vì con Nâu há miệng (theo ý Bi là nó há miệng để thè lưỡi liếm, không có gì sợ). Có lần Bi cầm tay tôi, đặt tay nó bên ngoài, hứa là nếu con Nâu cắn thì chắc chắn sẽ cắn trúng Bi trước, cho tôi yên tâm. Tập luyện tới khi tôi quen luôn con Nâu rồi vẫn còn sợ chó.

Bi nói nếu tôi cứ sợ thì chó càng làm tới, nhưng giờ đã hơn 30 năm sau, tôi vẫn sợ chó, chó vẫn dí tôi, và tôi nhớ lời Bi (sau này được nhiều người nói thêm vào) là con chó có thể đọc vị hành vi của người, chỉ cần nhìn dáng vẻ, chó biết ngay kẻ đối diện sợ nó hay không. Có thể tình bạn cũng vậy, chúng tôi nhìn đứa đối diện, cảm được người đó sẽ trở thành bạn mình, không thực sự cần nhiều diễn giải.

Ở gần nhà, Bi dắt tôi đi chơi ở cái lạch nước to ra thành con suối mùa mưa. Bi dắt tôi đi hái nấm mèo ở cây mục khi mùa mưa tới. Bà nội Bi đập xoài xuống cho tôi mang về. Bi tới nhà tôi chơi xong dắt tôi đi bơi ở sông. Nhưng mẹ tôi cấm tôi xuống sông vì sợ chết đuối. Bi không sợ chết đuối vì ba của Bi nói phải dạy nó biết bơi khi ba đi làm xa nhà không ai trông. Nó đã học bơi rồi bơi khắp mấy bờ sông quanh khu gần đó.

Mỗi khi ra bờ sông, tôi ngồi trên bờ chơi với mớ đồ hàng nổi lên mặt nước. Còn Bi ra bơi với đám trẻ nhà gần bờ sông. Tụi nó thường trèo lên một tảng đá nổi khá xa bờ, xong từ trên đó nhảy xuống kêu "ùm" một tiếng, xem ai nhảy xa nhất là thắng. Hòn đá là chỗ ưa thích của cả xóm biết bơi.

Một chiều cuối tuần, tôi đang ở nhà bán hàng phụ mẹ thì Bi chạy hớt hải tới. Ngoài đường tiếng xôn xao váng lên, tiếng người lớn chạy đổ về bến đò. Tiếng la hét. Bi kéo tay tôi chạy ra sông. Ở bến đò, nhiều chú đã mặc áo phao bơi ra xa, có hai anh ngồi trên đò dùng chèo đẩy theo những người mặc áo phao. Lát sau, họ vớt lên một thân người. Hai anh trên đò kéo cái xác lên, nhỏ cỡ tụi tôi.

Đứng ở bờ sông trên cao, tôi thấy toàn bộ cảnh đó, chợt rùng mình khi nhận ra thân người nằm trên thuyền là thằng Cò, con của bà Thúy, hàng xóm của tôi. Từ sau lưng tôi, bà Thuý và mấy chị gái thằng Cò chạy vụt xuống bến thuyền. Họ vừa chạy vừa khóc. Bà Thúy trượt chân ngã xuống giữa con dốc bê tông. Những cô hàng xóm bên đường chạy ra đỡ bà Thúy lên nhưng bà đã ngất xỉu.

Tôi và Bi đứng nhìn đến khi xe cấp cứu ở xã tới, đưa thằng Cò từ xuồng lên cáng. Trong xe mấy chị gái Cò trèo lên bám chầm lấy em đang nằm với quần áo ướt đẫm. Xe đóng cửa và chạy đi trong tiếng còi hụ. Bi nắm chặt tay tôi, ngón tay cấu vào da thịt. Tôi quay qua nhìn thấy Bi nức nở khóc. Lúc đó tôi mới nhớ ra thằng Cò hay chơi nhảy từ cục đá xuống cùng đám bạn ngoài sông, trong đó có Bi.

Bi và tôi đi về khi trời chạng vạng tối. Nó đi vào nhà ôm lấy bà nội. Còn tôi lững thững quay về nhà một mình trong bóng tối. Ở xóm, người lớn dìu bà Thúy về và tụ tập ở nhà bà để giúp đỡ họ đêm đó. Tôi ăn phần cơm mẹ úp trong lồng bàn rồi đi ngủ. Tối đó mẹ cũng không về nhà vì ở bên nhà bà Thúy. Tôi nằm trong giường, nghe tiếng xe cấp cứu lại hụ còi lên, những giọng nói xôn xao, tiếng rên khóc của người đã mất con vì dòng sông.

Bi không rủ tôi ra sông chơi nữa. Nó chỉ chơi quanh nhà, chạy vào rừng hay lang thang lên rẫy mót ngô về nướng. Nó bảo nó không muốn mất bạn nữa. Nó bảo bà nội nói sông có nhiều xoáy nước, dù có biết bơi đôi khi cũng không tránh được, không nên dắt tôi ra đó chơi vì tôi không biết bơi.

Hai năm sau thì tôi chuyển về thành phố. Bi vẫn ở lại xã cùng bà nội. Chúng tôi không chia tay nhau. Trẻ con tám tuổi không thực sự biết chuyển nhà là không còn ở bên nhau nữa. Tôi vẫn nhớ về Bi như một người bạn đứng từ hòn đá giữa sông nhìn vào bờ xem tôi chơi đồ hàng và bỏ không ra bờ sông vì sợ tôi chết đuối.

Bước vào đời nhau

Tôi là đứa trẻ không biết mở lời kết bạn. Cần con chó tên Nâu dí theo tôi để tôi được quen Bi. Những người bạn đến và ở bên tôi trong những năm tháng tuyệt vời hay buồn bã của cuộc sống. Họ bước vào thế giới của tôi tự nhiên vì lúc đó chúng tôi cần nhau, vì họ nghĩ cần phải cứu tôi khỏi chuyện gì đó, hoặc vì không gian đủ rộng cho mấy đứa tìm thấy niềm vui cạnh nhau.

Sau này, mỗi khi muốn kết bạn với ai, tôi thường nghĩ về Bi, về lúc Bi cầm tay tôi cho con Nâu ngửi với sự trấn an vô tư của trẻ con thời khó khăn nhất. Chúng tôi không có đồ chơi, không có không gian lớp học năng khiếu, thi tài, không có những cuộc chạy đua đồ đạc mới hay chôm đồ đạc của nhau trong lớp học. Chúng tôi chỉ có bàn tay, con Nâu, đường đất đỏ về nhà và một bờ sông nguy hiểm.

Chúng tôi tỏ ra yếu đuối trước mặt nhau. Tôi ré lên vì bị chó đuổi. Bi đứng khóc vì thằng Cò chết đuối. Chúng tôi không biết chế nhạo nhau, cũng không biết yếu đuối là điều ta thường giấu ở trong góc nhà không chia sẻ với ai.

Món quà mà Bi dành cho tôi: bước vào cuộc sống của nhau bằng sự chăm sóc, yếu đuối và thành thật, cũng là điều đã tạo ra những tình bạn kéo dài nhiều năm khi tôi lớn lên trong đời.

Một người bạn tôi làm ở công ty từng gói một chai lăn khử mùi vào hộp giấy xong tặng tôi, nói thật tế nhị là: "tớ nghĩ cậu nên dùng thử, cậu sẽ thấy dễ chịu hơn" - thay vì nói "ê cậu hôi nách quá vui lòng xài lăn khử mùi đừng làm phiền thiên hạ."


Những điều như vậy đồng nghiệp không bao giờ nói. Sau 5 năm đi làm không ai nói với tôi điều đó. Người xung quanh chịu đựng tôi, một số người bằng tuổi nói xấu sau lưng, chế nhạo sự “mất vệ sinh” mà tôi không biết. Họ từ chối lại gần, từ chối kết thân, hoặc coi như là chịu đựng mùi hôi công cộng. Nhưng bạn đã đến và chỉ dẫn tôi về điều xảy ra với cơ thể mình bằng cách dịu dàng và đơn giản. Khi một người chọn cách dũng cảm chăm sóc, họ chấp nhận bạn là ai, họ kiên nhẫn vì bạn, và tạo ra không gian để cả hai cùng sống. Tôi không dự đoán gì về tình bạn với cô đồng nghiệp đó khi nhận chai lăn khử mùi. Nhưng cô đã trở thành bạn hơn chục năm sau đó trong cuộc sống của tôi. Cũng như Bi cầm tay tôi để đoan chắc con Nâu không cắn, cô đi một quãng đường dài giúp tôi học săn sóc bản thân, học cách để trở nên gọn gàng hơn với cơ thể mình, thứ mà đôi khi chính gia đình không ai chỉ dẫn.

Tôi tin rằng tình bạn đã tạo hình cuộc sống của mình. Ngoài những thời gian bi quan về sức khoẻ hay không gian chính trị, tôi luôn cảm thấy sự tồn tại của mình trọn vẹn. Tôi tín thác mình cho đời sống. Niềm vui được ở bên nhau. Cảm giác săn sóc cho nhau tạo ra những hạnh phúc khó hiểu. Có lần, khi tôi bị người yêu đá, bạn tôi nghe xong đã bay sang Bangkok, nơi tôi ở khi đó. Nó dắt tôi đi khắp nơi, nói những điều linh tinh đùa giỡn. Nó ngồi ngoài vỉa hè nghe tôi kể bị đá thế nào, làm sao để sống tiếp. Xong đâu đó, nó về lại Sài Gòn, để tôi tiếp tục suy nghĩ và giải quyết mối tình tồi tệ của mình.

Bạn tôi không hề có ý định giải quyết dùm một sự lằng nhằng cảm xúc. Không ai làm vậy. Kiểu như sự rối ren hay khổ sở tôi trải qua phải do tôi quyết định lấy. Họ chỉ có mặt, ngồi trong nhà cùng nhau, đi bộ bên bờ kênh nhìn tôi khóc hổn hển, hoặc đứng trong nhà nấu ăn, gọi tôi ra ăn sau những giờ kiệt sức.

Những buổi tối nấu cơm ăn cùng và nói về những nỗi sợ của bản thân, cảm giác bất hạnh khó diễn tả thành lời dần rõ ràng hơn. Khi trời sao, chúng tôi nằm ngủ trên đồi và nói về mất mát xây xước trong sự sống của mình. Tôi và bạn bè cùng nhau sống mà không cảm thấy cô độc. Hay còn gì nữa để chúng tôi tiếp tục những mối quan hệ không thực sự có lợi ích gì cho công việc hay tiền bạc?

Bạn để làm gì?

Hồi vào đại học thỉnh thoảng tôi ghé qua những giảng đường nơi diễn giả to tiếng nói về ích lợi của networking, sức mạnh của tình bạn, kỹ năng để networking. Đó là thời điểm tuổi tác chúng tôi ráo riết kết bạn, làm quen, có bạn làm ăn, tìm kiếm đặc ân của những người coi mình là bạn, để có thể hãnh diện giải quyết việc gì đó bằng quan hệ bạn bè thay vì công việc. Tình bạn có thể làm ra tiền. Hãy chỉ kết bạn với người thành công. Hãy đưa ta đến tầng lớp cao bằng cách kết bạn với tầng lớp cao. Vật chất hoá tình bạn là tuyên ngôn mượt mà dễ sử dụng. Bạn bè không phải cha mẹ, anh em, không có gì đáng lo nếu ta phải lợi dụng nó. Bạn bè không phải vợ/chồng/người yêu, tận dụng không hề mang tiếng sở khanh hay đào mỏ. Công thức là, nếu bạn có 100 người bạn thành công, bạn chắc chắn sẽ thành công.


Nhưng ở tuổi đó, tôi vẫn còn nhớ chuyện Bi cầm tay tôi dạy để con Nâu liếm tay. Tình bạn tràn ngập trái tim về điều tốt đẹp tôi được lớn lên cùng. Tôi không nghĩ ra cách nào quy 100 đứa bạn thành công ra tiền.

Thực ra tôi không có 100 người bạn. Tôi đọc sách và biết rằng sau 30 tuổi mỗi người sẽ bớt kết bạn, sẽ thu về các mối quan hệ gia đình hay công việc. Đến khoảng 50 hoặc 60 tuổi, nếu xảy ra biến cố ly hôn hay bạn đời mất hoặc con cái vào đại học, người lớn thường trải qua giai đoạn đơn côi kiệt quệ vì không có bạn nào bên họ nữa. Nhiều người di chuyển qua hướng khác. Những mối quan hệ chỉ còn là công việc. Người bạn mất đi. Sự thật đáng buồn là tôi sẽ không còn dễ dàng kết bạn như hồi Bi đuổi chó cho tôi, và số lượng những người bạn cũng sẽ giảm dần khi ta không còn thấy vui khi ở bên nhau. Cuộc đời sẽ hoá thành gì nếu ta không có bạn?

Một buổi tối khi tôi khoảng 28 tuổi, tôi và vài người bạn cùng đi ăn tối, một truyền thống chúng tôi cố gắng duy trì khi đã đi làm. Trong suốt buổi hôm đó, một người bạn thường xuyên hỏi tất cả những người khác có quen anh A, chị B, anh C mảng này không, giới thiệu đi, xong bạn dùng hai tiếng ăn tối để nói sếp bạn giỏi, sếp khác ngu dốt.

Hết bữa tối ra về, tôi chợt nhớ ra mình không kịp hỏi một đứa vừa sinh con là em bé của nó thế nào. Tôi cũng không hỏi hai đứa còn lại chuyển việc có ổn không. Một khoảng trống hỗng ra trong đầu tôi, những người bạn thân trở thành chân dung rỗng vì tôi không còn hỏi họ đang sống và đã sống thế nào.

Trên taxi trở về nhà, tôi quyết định sẽ không đi ăn tối như vậy nữa. Tôi không thể coi bạn bè là chỗ để networking, nơi chân dung của họ bị đơn giản hóa thành con ốc trong cỗ máy thành công tuổi trẻ, là nấc thang để vươn lên những vị trí mình ao ước. Tôi muốn trở về nhà và có thể tưởng tượng ra chân dung và gương mặt của họ, đã trải qua đời sống và sự vất vả cùng nhau.

Chúng ta có cần bạn không?

Sau 30 tuổi, tôi trở nên ý thức về tình bạn. Tôi không còn thụ động như hồi Bi phải giải cứu tôi khỏi con chó nữa. Tôi phát hiện ra tình bạn đã giúp tôi trở thành một phụ nữ độc lập. Các bạn sẵn sàng chia sẻ hành trình họ trải qua trong cuộc sống, cảm xúc, mâu thuẫn gia đình. Họ nói về điều ít người muốn nói. Nhờ họ, cuộc sống trở thành sự trọn vẹn mà tôi không phải vật lộn với cảm giác trống vắng, đơn độc hoặc bị bỏ rơi.

Một lần ở Mexico, tôi sống ở một nhà trọ vì dịch Covid-19 kéo dài. Khi đang nấu ăn thì có một bạn đi ngang. Cậu hỏi tôi nấu gì. Sau đó ngồi lại chơi. Hoá ra cậu học về triết học, quê ở một hòn đảo nhỏ xa xôi, năm 35 tuổi cậu quyết định sẽ đi lang thang khắp nơi để hiểu về những điều cậu học trong nghiên cứu triết học. Đi từ Ecuador tới Mexico thì toàn thế giới đóng cửa nên cậu cũng ở lại gần nơi tôi sống. Sau đó, cậu đã giảng cho tôi nghe về những gì cậu học, suy nghĩ về thế giới xung quanh. Suốt một tháng, tôi đã được đối thoại với một người có niềm đam mê với triết học và yêu cuộc sống tha thiết. Cậu tiếp tục đi khắp thế giới sau đó, và đến Indonesia thăm tôi khi tôi về nhà.

Tôi đã ngừng lo lắng và cho bản thân mình trò chuyện với người lạ, có thêm bạn mới, dù họ không cùng sở thích, không làm việc cùng mình, không thực sự liên quan hay ảnh hưởng gì đến đời sống hàng ngày mình trải qua. Họ xuất hiện một lúc nào đó, sống cạnh tôi, chia sẻ mỗi ngày, mỗi bình minh, món ăn mới, nói về sự thay đổi của thế giới họ sống. Càng lúc tôi càng thấy rõ hơn chân dung của những vùng đất xa lạ mà tôi thường có định kiến hoặc chỉ nghe qua sách vở.

Gần đây, một người học cùng lớp thạc sĩ với tôi đã lái xe 8 giờ đến chỗ tôi và cùng tôi lướt sóng hai ngày, trước khi bạn trở về lại nhà để vào dạy học kỳ mới. Bạn kể rằng gia đình bạn trải qua một chuyện rất buồn, người bạn quen thân của gia đình đã qua đời vì sốc thuốc [ma tuý], và cả nhà bạn rơi vào khủng hoảng.

Khi bạn tạm biệt và rời đi, tôi không biết khi nào sẽ gặp lại. Tôi không biết bạn có vượt qua nỗi đau mất người bạn đó không. Tôi không biết chúng tôi đã chia sẻ những gì với nhau, vài bữa ăn, vài buổi tập lướt sóng. Bạn khóc giữa biển. Tim tôi thắt lại. Tôi bảo bạn hãy yên tâm, người đó sẽ biết bạn thương bao nhiêu, người sẽ yên tâm ra đi.

Rất nhiều năm tháng, tôi luôn muốn mình vững chãi bước trong đời như một cái cây. Nhưng rồi tôi nhận ra mình ước được đứng bên cạnh những “bạn cây” khác, đi qua mọi rối ren và bất an trong đời. Tôi được làm người yếu đuối, lo sợ, được dặn dò hãy yên tâm rồi chúng ta sẽ làm được mọi điều.

Tôi nhìn vào mắt bạn mình, biết chúng tôi chia sẻ quá khứ và tương lai cho nhau. Chúng tôi không đổi bạn thành tiền hay thành networking. Chúng tôi không sợ trở thành những kẻ thành công không có bạn và trái tim trống rỗng.

Khải Đơn

Nguồn: fbclid=IwY2xjawFNlrRleHRuA2FlbQIxMAABHUt0ioVrc4rbZn7534IaVV_AZmTx6EFLVVMtEiDuYy3nbGrPjpg2he0S0A_aem_AHtbgSNN5_HlYedXpwg7ng

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.